Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Chu Khánh Lân với tiêu đề "Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số 62340201), được thực hiện tại Học viện Ngân hàng dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Tô Ngọc Hưng và PGS.TS. Đào Văn Hùng vào năm 2016.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Truyền tải chính sách tiền tệ (CSTT) là nội dung trung tâm trong điều hành kinh tế vĩ mô của Ngân hàng Trung ương (NHTW). Việc nắm bắt chính xác mức độ và thời gian tác động của các công cụ tiền tệ đến sản lượng và lạm phát là điều kiện tiên quyết để ban hành các chính sách phù hợp. Tại các quốc gia đang phát triển có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng (bank-based) như Việt Nam, kênh tín dụng giữ vai trò huyết mạch.
Thực tiễn giai đoạn 2011 đến nửa đầu năm 2012 cho thấy, việc thắt chặt CSTT nhằm kiềm chế lạm phát cao đã làm bộc lộ nhiều điểm suy yếu của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và khu vực doanh nghiệp: thanh khoản căng thẳng, nợ xấu gia tăng, tỷ suất sinh lời giảm sút, năng lực an toàn vốn suy giảm, trong khi doanh nghiệp tắc nghẽn dòng tiền và tồn kho lớn. Giai đoạn 2013–2014, dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuyển sang nới lỏng tiền tệ và hạ nhanh mặt bằng lãi suất, tăng trưởng tín dụng vẫn diễn biến chậm chạp, có những tháng tăng trưởng âm. Thực trạng này phản ánh sự bất ổn và hiện tượng nghẽn mạch trong cơ chế truyền tải qua kênh tín dụng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: các nghiên cứu về truyền tải CSTT tại Việt Nam trước đó còn tương đối ít, chủ yếu tiếp cận theo kênh lãi suất truyền thống hoặc mới chỉ phân tích khía cạnh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng mà chưa phân tích đầy đủ, toàn diện đồng thời cả hai kênh thành phần (kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng), cũng như chưa làm rõ các nhân tố vi mô từ cấu trúc bảng cân đối tài sản của ngân hàng và doanh nghiệp ảnh hưởng đến quá trình truyền tải.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về truyền tải CSTT, truyền tải CSTT qua kênh tín dụng với hai kênh thành phần là kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng; tổng hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và kết quả thực nghiệm trong và ngoài nước.
- Phân tích thực trạng điều hành CSTT của NHNN, hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam và thực trạng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng (bao gồm hai kênh thành phần); phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình truyền tải này.
- Nghiên cứu định lượng về mức độ, chiều hướng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam, đánh giá mức độ đóng góp và vai trò khuếch đại của kênh tín dụng đối với sự biến động của các mục tiêu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP và lạm phát CPI).
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam (bao gồm kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của NHTM), biểu hiện qua sự biến động của cung - cầu tín dụng; thực trạng điều hành CSTT của NHNN và hoạt động kinh doanh của các NHTM.
- Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp tại Việt Nam, có so sánh đối chiếu với một số quốc gia trong khu vực ASEAN.
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng thực hiện trong giai đoạn 2011–2015. Mô hình kinh tế lượng định lượng sử dụng chuỗi dữ liệu theo quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung chính:
Các nghiên cứu quốc tế
Nền tảng lý thuyết kênh tín dụng bắt nguồn từ việc dỡ bỏ các giả định thị trường tài chính hoàn hảo và khai thác hiện tượng thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và người cho vay:
- Khung phân tích nền tảng: Bernanke và Blinder (1992, 1995) chỉ ra rằng điều hành CSTT làm thay đổi lãi suất và được khuếch đại bởi sự biến động của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài (external finance premium). Hai tác giả phân tách kênh tín dụng thành hai phân kênh: kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng.
- Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng: Romer và Romer (1990, 1993) phân tích phản ứng của ngân hàng khi bị rút dự trữ. Kashyap và Stein (1995, 2000) sử dụng dữ liệu mảng chứng minh các ngân hàng có quy mô nhỏ và thanh khoản thấp chịu tác động thu hẹp tín dụng mạnh hơn các ngân hàng lớn khi CSTT thắt chặt. Elliehausen và Wolken (1990), Angeloni và các cộng sự (1995), Kishan và Opiela (2000), Peek và Rosengren (1995) bổ sung bằng chứng về tác động của mức độ đủ vốn và quy mô vốn chủ sở hữu đến khả năng cung ứng tín dụng. Sacerdoti (2005) khảo sát hệ thống ngân hàng tại châu Phi. Juurikkala và các cộng sự (2009), Angeloni và Ehrmann (2003), Kohlscheen và Miyajima (2015) khẳng định vai trò của kênh tín dụng lớn hơn ở các thị trường tài chính dựa vào ngân hàng so với thị trường dựa vào chứng khoán. Ngược lại, Ananchotikul và Seneviratne (2015) chỉ ra kênh tín dụng tại một số nước châu Á không phát huy vai trò như kỳ vọng do phụ thuộc vào năng lực tài chính và cơ cấu sở hữu ngân hàng. Delis và các cộng sự (2011), Eid (2011), Foglia và các cộng sự (2010) phân tích các chỉ tiêu dự phòng rủi ro, đòn bẩy và an toàn vốn.
- Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay: Stiglitz và Weiss (1981) xây dựng lý thuyết định mức tín dụng do rủi ro lựa chọn đối nghịch. Bernanke và Gertler (1995), Lang và Nakamura (1995), Bernanke, Gertler và Gilchrist (1998) chứng minh hiện tượng dịch chuyển dòng vốn sang khách hàng chất lượng cao (flight to quality), theo đó doanh nghiệp nhỏ chịu tổn thương nặng nề hơn doanh nghiệp lớn khi thắt chặt tiền tệ. Post (1992), Calomiris, Himmelberg và Wachtel (1995), Gertler và Gilchrist (1993), Eichenbaum (1994), Friedman và Kuttner (1993), Zaderey (2003), Kashyap, Lamont và Stein (1994), Kashyap, Stein và Wilcox (1993), Oliner và Rudebusch (1993), Wesche (2000) phân tích tương quan giữa thương phiếu, tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Trần Thị Lộc (2002), Hà Thị Sáu và các cộng sự (2014), Tô Ngọc Hưng (2013), Phạm Thị Hoàng Anh (2013), Nguyễn Đức Trung (2013), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013).
- Camen (2006) dùng mô hình BVAR giai đoạn 1996–2003 cho thấy tín dụng ảnh hưởng chính tới lạm phát sau 24 tháng.
- Hung và Wade (2008) sử dụng mô hình VAR khẳng định kênh tín dụng tại Việt Nam quan trọng hơn kênh lãi suất truyền thống.
- Nguyễn Phi Lân (2010) áp dụng mô hình SVAR chuỗi số liệu IFS 1998–2009 cho thấy cung tiền tác động tích cực nhưng chưa mạnh tới sản lượng và độ trễ của lãi suất thị trường tiền tệ là 3–5 tháng.
- Chu Khánh Lân (2012, 2013) phân tích thực trạng cung - cầu tín dụng và dùng mô hình VAR giai đoạn 2000–2011 chỉ ra vai trò khuếch đại của biến tín dụng đối với phản ứng của GDP và CPI trước các cú sốc tiền tệ.
- Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hồng Quân (2013) dùng dữ liệu bảng của các NHTM giai đoạn 2003–2012 chứng minh đặc điểm vốn chủ sở hữu, thanh khoản và rủi ro ảnh hưởng đến phản ứng của ngân hàng trước CSTT.
- Nguyễn Thị Thúy Vinh (2015) dùng mô hình VAR giai đoạn 1995–2009 đánh giá các kênh truyền tải, chỉ ra kênh tín dụng và tỷ giá khuếch đại tác động của cung tiền đến sản lượng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về tính đồng bộ khi kết hợp phân tích chuyên sâu cả hai phân kênh (khả năng cấp tín dụng của ngân hàng và bảng cân đối tài sản của người đi vay), đồng thời lượng hóa mức độ khuếch đại của tín dụng bằng mô hình SVAR với chuỗi dữ liệu cập nhật từ 2000 đến 2015, kết hợp phân tích thực trạng vi mô từ báo cáo tài chính của 29 NHTM và 201 doanh nghiệp niêm yết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận cơ chế truyền tải CSTT theo dạng cấu trúc, dựa trên hai giả định cơ bản:
- NHTM không thể tạo ra tài sản nợ thay thế hoàn hảo cho tiền cơ sở (tiền mặt lưu thông và dự trữ bắt buộc/vượt mức tại NHTW).
- Giá cả có tính cứng nhắc trong ngắn hạn, bác bỏ giả thuyết tính trung lập của tiền tệ (money neutrality).
Khung lý thuyết phân tích kênh tín dụng bao gồm hai cơ chế thành phần:
[Công cụ CSTT: OMO, Tái cấp vốn, Dự trữ bắt buộc]
[Lãi suất / Dự trữ hệ thống]
[Kênh bảng cân đối tài sản] [Kênh khả năng cấp tín dụng]
- Tài sản ròng (Pequity) ↓ - Dự trữ ngân hàng ↓
- Dòng tiền ròng (CF) ↓ - Vốn tự có / CAR ↓
- Lựa chọn đối nghịch ↑ - Rủi ro nợ xấu & DPRR ↑
- Định mức tín dụng ↑ - Thu hẹp cung tín dụng
[Khối lượng Tín dụng ↓]
[Đầu tư (I) & Tiêu dùng ↓]
[Sản lượng (Y) & Giá cả (P) ↓]
-
Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay: Thắt chặt CSTT làm tăng lãi suất $i$, dẫn đến giảm giá trị tài sản ròng $P_{equity}$ và giảm dòng tiền $CF$ của người đi vay. Điều này làm tăng chi phí phần thưởng nguồn vốn bên ngoài, làm tăng rủi ro lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, khiến ngân hàng siết chặt chuẩn mực đánh giá và định mức tín dụng (credit rationing). Sơ đồ truyền tải:
$$M \downarrow \rightarrow i \uparrow \rightarrow P_{equity} \downarrow (CF \downarrow) \rightarrow \text{Lựa chọn đối nghịch & Rủi ro đạo đức} \uparrow \rightarrow \text{Tín dụng} \downarrow \rightarrow I \downarrow \rightarrow Y \downarrow$$
Bên cạnh đó, cơ chế còn chịu tác động từ mức biến động giá cả ngoài dự tính ($P_{unexpected}$).
-
Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng: Thắt chặt CSTT tác động qua hai đường dẫn vi mô:
- Qua dự trữ ngân hàng: Hút dự trữ làm giảm nguồn vốn khả dụng, hạn chế khả năng cung ứng cho vay của NHTM:
$$M \downarrow \rightarrow \text{Dự trữ ngân hàng} \downarrow \rightarrow \text{Khả năng cung ứng tín dụng} \downarrow \rightarrow I \downarrow \rightarrow Y \downarrow$$
- Qua vốn chủ sở hữu ngân hàng: Giá trị tài sản giảm làm tăng tổn thất, tăng trích lập dự phòng rủi ro (DPRR), làm suy giảm vốn tự có và hệ số an toàn vốn (CAR), buộc ngân hàng phải thực hiện quá trình giảm đòn bẩy (deleveraging) bằng cách cắt giảm cho vay:
$$M \downarrow \rightarrow \text{Giá trị tài sản} \downarrow \rightarrow \text{Vốn chủ sở hữu} \downarrow \rightarrow \text{Khả năng cấp tín dụng} \downarrow \rightarrow I \downarrow \rightarrow Y \downarrow$$
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp định tính và thống kê mô tả: Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích - tổng hợp, so sánh dữ liệu thực tế của hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam với các chuẩn mực khu vực ASEAN và thang đo của Moody's.
- Phương pháp định lượng:
- Mô hình Véctơ tự hồi quy cấu trúc (SVAR - Structural Vector Autoregression) và mô hình VAR so sánh.
- Sử dụng hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions - IRF) trước các cú sốc tiền tệ (cung tiền, lãi suất) trong hai trường hợp: mô hình có kênh tín dụng (tín dụng là biến nội sinh) và mô hình không có kênh tín dụng (tín dụng được đặt làm biến ngoại sinh) nhằm đo lường mức độ khuếch đại của tín dụng.
- Kỹ thuật phân rã phương sai (Variance Decomposition) và phân rã quá khứ (Historical Decomposition) để đánh giá tỷ trọng giải thích của tín dụng đối với biến động của tổng sản lượng (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
| Nhóm dữ liệu |
Phạm vi / Quy mô |
Nguồn thu thập |
| Dữ liệu vĩ mô & tiền tệ |
Chuỗi số liệu quý giai đoạn 2000–2015 (GDP, CPI, M2, tín dụng, lãi suất, tỷ giá) |
Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của IMF, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước |
| Dữ liệu ngân hàng thương mại |
Báo cáo tài chính của 29 NHTM giai đoạn 2010–2014 |
Báo cáo tài chính kiểm toán của các NHTM Việt Nam |
| Dữ liệu doanh nghiệp |
Báo cáo tài chính của 201 doanh nghiệp niêm yết trong chỉ số VNINDEX giai đoạn 2010–2015 |
Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) |
| Dữ liệu khảo sát thực tế |
Phiếu khảo sát 306 doanh nghiệp năm 2013 |
Nhóm nghiên cứu Báo cáo hoạt động ngân hàng 2013 - Học viện Ngân hàng |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở luận về truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương 1 thiết lập khung cơ sở lý thuyết toàn diện về CSTT và cơ chế truyền tải:
- Tổng quan về CSTT: Làm rõ các định nghĩa về CSTT của Tô Kim Ngọc (2012), Fed, NHTW Canada và Luật NHNN Việt Nam 2010. Phân tích hệ thống mục tiêu: mục tiêu cuối cùng (ổn định giá cả, việc làm, tăng trưởng, ổn định thị trường tài chính, lãi suất, tỷ giá; vấn đề không nhất quán thời gian); mục tiêu trung gian (M1, M2, M3, dư nợ tín dụng, lãi suất dài hạn); mục tiêu hoạt động (tiền cơ sở, dự trữ ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn). Phân tích các công cụ truyền thống (nghiệp vụ thị trường mở OMO, tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc) và các công cụ phi truyền thống (hiệu ứng cam kết, nới lỏng định lượng, nới lỏng tín dụng).
- Cơ chế truyền tải qua kênh tín dụng: Phân tích bản chất của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sinh ra từ thông tin bất cân xứng. Trình bày chi tiết cơ chế vận hành của kênh bảng cân đối tài sản (thông qua tài sản ròng, dòng tiền, định mức tín dụng, mức giá không dự tính) và kênh khả năng cấp tín dụng (thông qua tiền dự trữ và nguồn vốn chủ sở hữu ngân hàng).
- Các nhân tố ảnh hưởng:
- Phía người đi vay (doanh nghiệp, hộ gia đình): Tỷ trọng đòn bẩy vay nợ trong tổng nguồn vốn, cơ cấu kỳ hạn vay, tỷ trọng sử dụng lãi suất thả nổi, và năng lực quản trị, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
- Phía NHTM: Tỷ trọng tín dụng trên tổng tài sản (TTS), tỷ lệ nợ xấu và mức trích lập dự phòng rủi ro (DPRR), tính thanh khoản của tài sản và cơ cấu nguồn vốn, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên TTS (hệ số an toàn vốn CAR), và mức độ đa dạng hóa thu nhập (mức độ phụ thuộc vào tỷ lệ lãi biên NIM).
- Tổng quan phương pháp định lượng: Khảo cứu các mô hình VAR, SVAR, BVAR và dữ liệu mảng được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế.
Chương 2: Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng giai đoạn 2011–2015 và kiểm định mô hình định lượng:
- Bối cảnh kinh tế vĩ mô và điều hành của NHNN: Giai đoạn 2011–2015 chứng kiến sự chuyển biến phức tạp của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Phân tích diễn biến tăng trưởng GDP theo ngành, hệ số ICOR của Việt Nam so với khu vực, lạm phát CPI, chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện chỉ tiêu cung tiền, tín dụng, tiền cơ sở, hệ số nhân tiền, các mức lãi suất điều hành (tái cấp vốn, tái chiết khấu, lãi suất cơ bản), lãi suất liên ngân hàng, tỷ giá VND/USD và tình trạng đô la hóa.
- Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam:
- Tỷ trọng tín dụng trên TTS của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở mức rất cao khi so sánh với các nước ASEAN.
- Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng gia tăng mạnh sau giai đoạn thắt chặt tiền tệ 2011–2012, tỷ lệ DPRR/nợ xấu và DPRR/dư nợ thấp hơn nhiều so với chuẩn mực khu vực theo thang đo Moody's.
- Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và tỷ lệ tín dụng/nguồn vốn huy động tại cả khối NHTM Nhà nước (NHTMNN) và NHTM Cổ phần (NHTMCP) đều ở mức cao, tạo rủi ro thanh khoản kỳ hạn.
- Cơ cấu thu nhập của NHTM Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng còn rất thấp so với ngân hàng khu vực ASEAN.
- Tỷ suất sinh lời (ROA, ROE, ROAA, ROAE) giảm mạnh trong giai đoạn 2012–2014; hệ số an toàn vốn CAR và đòn bẩy tài chính chịu áp lực suy giảm khi nợ xấu phát sinh.
- Thực trạng sức khỏe tài chính của doanh nghiệp vay vốn: Dựa trên khảo sát 306 doanh nghiệp năm 2013 và dữ liệu 201 doanh nghiệp niêm yết: tỷ trọng tín dụng ngân hàng chiếm ưu thế tuyệt đối trong nguồn vốn do thị trường trái phiếu doanh nghiệp chậm phát triển; khả năng chi trả lãi vay, tỷ suất sinh lời trên doanh thu, ROA, ROE, hệ số thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh đều suy giảm mạnh, làm giảm khả năng tiếp cận vốn vay mới.
- Kết quả mô hình định lượng (SVAR/VAR giai đoạn 2000–2015):
- Hàm phản ứng xung (IRF): Phản ứng của GDP và CPI trước cú sốc lãi suất và cung tiền khi có kênh tín dụng diễn ra nhanh hơn và có biên độ khuếch đại lớn hơn rõ rệt so với mô hình không có kênh tín dụng (loại trừ biến tín dụng thành biến ngoại sinh).
- Phân rã phương sai: Tín dụng đóng góp tỷ trọng giải thích đáng kể vào sự biến động của GDP và CPI. Cú sốc từ lãi suất tác động đến tín dụng trước khi truyền dẫn sang sản lượng và giá cả.
| Tiêu chí phân tích thực nghiệm |
Kết quả mô hình SVAR/VAR của luận án |
| Sự tồn tại của kênh tín dụng |
Xác nhận kênh tín dụng tồn tại và đóng vai trò dẫn truyền chủ đạo các cú sốc CSTT tại Việt Nam |
| Mức độ khuếch đại |
Kênh tín dụng khuếch đại mạnh mẽ tác động của thay đổi cung tiền và lãi suất lên tăng trưởng GDP và lạm phát CPI |
| Độ trễ tác động |
Cú sốc lãi suất thị trường liên ngân hàng truyền tải đến lãi suất cho vay và tín dụng, sau đó mất khoảng 3–5 quý để tác động đạt đỉnh lên GDP và CPI |
| Đóng góp giải thích biến động (Phân rã phương sai) |
Tín dụng giải thích tỷ lệ phần trăm đáng kể trong biến động của GDP và lạm phát, cao hơn mức đóng góp của kênh lãi suất đơn thuần |
Chương 3: Giải pháp tăng cường khả năng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng, giải pháp và kiến nghị vĩ mô nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng:
- Định hướng: Điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.
- Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất và công cụ thị trường mở (OMO); hiện đại hóa công cụ tái cấp vốn gắn với quản trị rủi ro; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa CSTT và chính sách giám sát an toàn vĩ mô/vi mô; nâng cao năng lực giám sát nợ xấu và hiệu quả xử lý nợ qua VAMC.
- Đối với các Ngân hàng thương mại: Tăng cường năng lực tài chính và vốn tự có để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn (Basel); nâng cao năng lực thẩm định tín dụng, giảm thiểu rủi ro lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức; quản trị rủi ro thanh khoản, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn; cơ cấu lại nguồn thu theo hướng đa dạng hóa các dịch vụ phi tín dụng nhằm giảm sự phụ thuộc vào NIM.
- Đối với khách hàng vay vốn (Doanh nghiệp): Minh bạch hóa thông tin tài chính, chuẩn hóa chế độ kế toán - kiểm toán; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và năng lực quản trị rủi ro kinh doanh; cơ cấu lại cấu trúc vốn, giảm đòn bẩy vay nợ ngắn hạn ngân hàng.
- Các kiến nghị vĩ mô:
- Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong việc hoạch định và thực thi CSTT.
- Kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định tài chính, tránh đảo chiều chính sách đột ngột gây cú sốc cho hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành giữa CSTT và chính sách an toàn vĩ mô - vi mô nhằm tối ưu hóa hiệu quả truyền tải.
- Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả, giảm bớt áp lực cung ứng vốn kỳ hạn dài đè nặng lên hệ thống NHTM.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp về lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống NHTM trên cả hai phương diện: kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng.
- Phân tích chi tiết vai trò khuếch đại của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài phát sinh từ tình trạng thông tin bất cân xứng trong điều kiện thị trường tài chính dựa vào hệ thống ngân hàng.
- Xác định hệ thống các nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến tính nhạy cảm và hiệu quả truyền tải của kênh tín dụng (đặc điểm đòn bẩy doanh nghiệp, chất lượng tài sản, thanh khoản, nợ xấu, mức trích lập DPRR, vốn tự có và cơ cấu thu nhập NIM của ngân hàng).
Đóng góp về thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng truyền tải CSTT tại Việt Nam giai đoạn 2011–2015 thông qua việc kết hợp phân tích chuỗi số liệu vĩ mô với số liệu vi mô từ báo cáo tài chính của 29 NHTM và 201 doanh nghiệp niêm yết, cùng dữ liệu khảo sát 306 doanh nghiệp.
- Chỉ rõ các nút thắt cản trở dẫn truyền CSTT trong thực tế Việt Nam: nợ xấu cao bào mòn vốn tự có, trích lập DPRR không đầy đủ, chênh lệch kỳ hạn tài sản - nguồn vốn, sự mất cân đối cấu trúc vốn của doanh nghiệp khi quá phụ thuộc vào nợ vay ngân hàng ngắn hạn.
- Sử dụng mô hình SVAR/VAR cung cấp bằng chứng định lượng thực nghiệm giai đoạn 2000–2015 khẳng định sự tồn tại và mức độ khuếch đại vượt trội của kênh tín dụng đối với sự biến động của GDP và lạm phát CPI tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ ba chủ thể (NHNN, NHTM, doanh nghiệp) và 4 nhóm kiến nghị chính sách vĩ mô nhằm khơi thông cơ chế truyền tải và phát triển thị trường vốn cân bằng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Dữ liệu vi mô cấp độ ngân hàng (29 NHTM) mới dừng lại ở giai đoạn 2010–2014 và dữ liệu doanh nghiệp niêm yết (201 công ty) dừng lại ở năm 2015, chưa bao quát được toàn bộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa niêm yết.
- Mô hình kinh tế lượng chuỗi thời gian SVAR tập trung vào các biến số vĩ mô tổng hợp, chưa kết hợp mô hình vi mô dữ liệu bảng (panel data) tích hợp trực tiếp từng hợp đồng tín dụng chi tiết giữa từng ngân hàng và khách hàng thể nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phân tích định lượng vi mô bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đối với toàn bộ hệ thống NHTM trong các giai đoạn tái cơ cấu tiếp theo.
- Nghiên cứu sâu hơn về kênh chấp nhận rủi ro (risk-taking channel) kết hợp đồng thời với kênh tín dụng để làm rõ hành vi của ngân hàng trong môi trường lãi suất thấp kéo dài.
- Đo lường tác động tương hỗ giữa các công cụ chính sách an toàn vĩ mô (macroprudential policies) và công cụ CSTT truyền thống đối với hoạt động cấp tín dụng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, các Bộ ngành kinh tế vĩ mô): Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng định lượng về độ trễ, mức độ tác động của các công cụ tiền tệ qua kênh tín dụng; gợi ý các giải pháp tái lập cân bằng thị trường tài chính thông qua phát triển thị trường trái phiếu.
- Đối với các nhà quản trị Ngân hàng thương mại: Cung cấp khung phân tích về tác động của thanh khoản, nợ xấu, dự phòng rủi ro và tỷ lệ an toàn vốn đến chính sách cấp tín dụng, hỗ trợ xây dựng chiến lược quản trị tài sản nợ - có (ALM) và đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học khối ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về khung lý thuyết kênh tín dụng, quy trình phân tích thực trạng vi mô gắn liền vĩ mô, và phương pháp ứng dụng mô hình kinh tế lượng SVAR/VAR trong nghiên cứu CSTT tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Phần thưởng nguồn vốn bên ngoài (external finance premium) là gì và có vai trò như thế nào trong cơ chế truyền tải kênh tín dụng?
Phần thưởng nguồn vốn bên ngoài là mức chênh lệch giữa chi phí huy động vốn từ bên ngoài (như vay ngân hàng, phát hành chứng khoán) và chi phí cơ hội của nguồn vốn nội bộ (lợi nhuận giữ lại). Độ lớn của phần thưởng này phản ánh mức độ thiếu hoàn hảo của thị trường tài chính bắt nguồn từ thông tin bất cân xứng. Khi NHNN thắt chặt tiền tệ, lãi suất tăng làm suy giảm giá trị tài sản ròng và dòng tiền của người đi vay, làm gia tăng rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch. Do đó, phần thưởng nguồn vốn bên ngoài tăng lên, khuếch đại chi phí vay vốn thực tế và buộc doanh nghiệp phải cắt giảm đầu tư mạnh hơn so với mức tác động của kênh lãi suất đơn thuần.
2. Sự khác biệt căn bản giữa kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng là gì?
- Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay: Tập trung vào tình trạng tài chính của bên đi vay. CSTT làm thay đổi lãi suất, tác động trực tiếp lên giá trị tài sản ròng, dòng tiền và giá trị tài sản thế chấp của doanh nghiệp/hộ gia đình, làm thay đổi mức độ rủi ro đối nghịch và quyết định cấp tín dụng của ngân hàng.
- Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng: Tập trung vào năng lực tài chính của bên cho vay (NHTM). CSTT tác động trực tiếp lên quy mô tiền dự trữ khả dụng và vốn chủ sở hữu/hệ số an toàn vốn (CAR) của ngân hàng, từ đó quyết định mức độ sẵn sàng và khối lượng cung ứng tín dụng ra nền kinh tế.
3. Tại sao giai đoạn 2013–2014 dù NHNN hạ nhanh lãi suất nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn chậm chạp?
Luận án chỉ ra hiện tượng tắc nghẽn này do sự suy yếu đồng thời ở cả hai phân kênh:
- Về phía ngân hàng (cung tín dụng): Nợ xấu tồn đọng sau giai đoạn thắt chặt 2011–2012 làm suy giảm vốn tự có, gia tăng áp lực trích lập DPRR và rủi ro thanh khoản, khiến các NHTM thận trọng, thắt chặt chuẩn mực cho vay và ưu tiên dùng vốn mua trái phiếu Chính phủ thay vì cấp tín dụng.
- Về phía doanh nghiệp (cầu tín dụng): Năng lực tài chính suy giảm, dòng tiền yếu, hàng tồn kho ứ đọng và mất niềm tin thị trường khiến nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trở nên kém nhạy cảm với việc giảm lãi suất.
4. Kết quả mô hình SVAR/VAR trong luận án chứng minh vai trò khuếch đại của tín dụng như thế nào?
Bằng cách so sánh hai mô hình VAR: mô hình thứ nhất đặt tín dụng là biến nội sinh (có kênh tín dụng) và mô hình thứ hai đặt tín dụng là biến ngoại sinh (loại bỏ cơ chế truyền tải qua tín dụng), kết quả hàm phản ứng xung (IRF) cho thấy phản ứng của sản lượng (GDP) và lạm phát (CPI) trước cú sốc lãi suất và cung tiền ở mô hình có kênh tín dụng diễn ra mạnh hơn, nhanh hơn và biên độ biến động lớn hơn rõ rệt. Phân rã phương sai cũng khẳng định tín dụng đóng góp tỷ trọng giải thích đáng kể vào biến động của GDP và CPI trong chuỗi số liệu 2000–2015.
5. Luận án đề xuất giải pháp vĩ mô căn bản nào để giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng khi truyền tải CSTT?
Giải pháp vĩ mô trọng tâm được luận án kiến nghị là đẩy mạnh phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho nền kinh tế. Việc này giúp cân bằng cấu trúc thị trường tài chính, giảm bớt sự phụ thuộc quá mức của doanh nghiệp vào nợ vay ngân hàng và giải tỏa áp lực mất cân đối kỳ hạn (lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn) cho hệ thống NHTM.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Khánh Lân là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ chế truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết thông tin bất cân xứng, phân tích thực trạng vi mô của 29 ngân hàng và 201 doanh nghiệp, cùng mô hình kinh tế lượng SVAR giai đoạn 2000–2015, công trình đã chứng minh sự tồn tại và vai trò khuếch đại chủ đạo của kênh tín dụng đối với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước, quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại và chiến lược phát triển thị trường tài chính Việt Nam.