Chương 1: Tổng quan về CSDL đa phương tiện Trong chương này trình bày khái quát về mô hình cơ sở dữ liệu đa phương tiện, các nhiệm vụ thiết kế và kiến trúc cơ sở dữ liệu đa phương tiện và mô hình dữ liệu đa phương tiện. Chương 2: Một số vấn đề về chỉ mục truy vấn video theo nội dung trong CSDL đa phương tiện Chương này trình bày chủ yếu về các vấn đề đối với video: khái niệm về video số, nén video và các phương pháp và thuật toán về chỉ mục và truy vấn video theo nội dung. Chương 3: Xây dựng ứng dụng thử nghiệm Cài đặt thử nghiệm một cơ sở dữ liệu đa phương tiện trên hệ quản trị Oracle để kiểm tra khả năng hỗ trợ đa phương tiện của thành phần Oracle InterMedia được tích hợp trong Oracle. Phần kết luận tóm tắt các kết quả đạt được và đưa ra một số phương hướng nghiên cứu để đánh giá được vai trò quan trọng của dữ liệu đa phương tiện trong nhiều ứng dụng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐA PHƢƠNG TIỆN 1. Nhu cầu cần có cơ sở dữ liệu đa phƣơng tiện (CSDLĐPT)[2] Ngay từ ban đầu, máy tính đã được coi là các thiết bị xử lý biểu tượng (symbolic)- các thiết bị có đầu vào là các biểu tượng theo luật alphabet và đầu ra là tập các biểu tượng của cùng dạng trên. Điều này đã trở thành mô hình cho các môi trường tính toán chuẩn dựa trên cơ sở máy Turing đã quen thuộc. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xuất hiện nhu cầu vô cùng lớn về khả năng khai thác và xử lý dữ liệu với số lượng khổng lồ mà nó là điều không dễ dàng diễn tả chỉ với việc sử dụng các kí tự.
Dưới đây là một số thí dụ về các kiểu dữ liệu như vậy: - Dữ liệu hình ảnh (Image data): Một học viên phẫu thuật mong muốn thực hành một ca phẫu thuật trên một bệnh nhân ảo có những triệu chứng sinh lý nào đó. Trên thực tế để tìm ra bệnh nhân với những triệu chứng mong muốn, học viên phẫu thuật phải truy vấn cơ sở dữ liệu ảnh phân tán và kích thước lớn chứa ảnh X quang hay MRI (Magnetic Resonance Imaging) của các bệnh nhân với các triệu chứng tương tự. Đôi khi các triệu chứng có thể dễ dàng mô tả bằng văn bản. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khác, nó có thể dễ dàng hơn cho học viên phẫu thuật nếu có thể trình diễn hình ảnh của loại mẫu (pattern) mà anh ta đang tìm kiếm trong các ảnh X quang của bệnh nhân.
Trong cả hai trường hợp này , một CSDL hình ảnh phải được duy trì. Nó có thể được truy vấn trên cơ sở các tiêu chí rất khác nhau- đầu vào là văn bản hay ảnh phù hợp (matching). - Dữ liệu Video (Video data) : trong một ngữ cảnh tương tự, một ai đó mong muốn có những bài giảng bằng băng hình về một chủ đề kỹ thuật nào đó. Điều này đòi hỏi phải truy vấn thư viện băng hình mà nó bao gồm tập hợp vô số các băng hình với nội dung kỹ thuật.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Dữ liệu âm thanh (Audio data) : Một sinh viên học về lịch sử đang nghiên cứu về Ai Cập cổ đại mong muốn tiếp cận với một vài cuộc phỏng vấn trước đây trên đài phát thanh của những người Ai Cập nổi tiếng để có thể biết thêm chi tiết về những khám phá của họ về những nơi ở khác nhau của người Ai Cập. Trong trường hợp này anh ta mong muốn tiếp cận với những băng audio cũ có nội dung liên quan đến Ai Cập học. - Dữ liệu tài liệu (Document data): Một CSDL văn bản truyền thống bao gồm các đoạn văn bản, các từ, câu, đoạn văn, chương…Một CSDL tài liệu khác văn bản ở chỗ nó không chỉ chứa các thông tin dạng văn bản thô mà nó còn chứa đựng cả cấu trúc và hình ảnh nhúng. Ví dụ, dữ liệu tài liệu được tạo ra, chèn vào và phục hồi nhờ sử dụng các ngôn ngữ đánh dấu chuẩn như HTML hay SGML.
Trong các trường hợp như vậy cấu trúc của tài liệu có thể được khai thác dựa trên mục lục dữ liệu…. - Dữ liệu viết bằng tay(Handwritten data): Nhiều người trong chúng ta thường ghi những ghi chú trên những mẩu giấy nhỏ, điều này thường gây mất thông tin khi chúng ta giặt quần áo hay vì một lí do nào đó mà những gì chúng ta ghi bị mờ đi. Một số ghi chú có thể không quan trọng, nhưng có rất nhiều cái cần được giữ gìn. Xu thế gần đây cả trên thương trường hay trong giới nghiên cứu người ta cho rằng ghi chép điện tử ngày càng phổ biến hơn trong tương lai.
Người sử dụng sẽ sử dụng các thiết bị điện tử để ghi chép và lưu trữ. Mặc dù có rất nhiều ghi chú có thể chuyển sang dạng mã văn bản ASCII bằng kỹ thuật phân tích viết tay, nhưng có rất nhiều ghi chú không thể thực hiện được bởi vì các ghi chú thường chứa cả những nét loằng ngoằng hay các biểu đồ khối. Như vậy, thông tin đa phương tiện hay còn gọi là dữ liệu đa phương tiện, thể hiện các thông tin của máy tính qua các dạng truyền thông như video, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 âm thanh, hoạt hoạ (animation), ảnh, alphanumerics hoặc có sự kết hợp giữa các dạng truyền thông này. Dựa trên các loại dữ liệu truyền thông chúng ta có thể phân ra làm hai dạng truyền thông tĩnh và động.
Dữ liệu tĩnh có nội dung và ý nghĩa không phụ thuộc vào thời gian thể hiện như ảnh, alphanumerics, đồ hoạ. Dữ liệu động có nội dung và ý nghĩa phụ thuộc thời gian. Chẳng hạn như khi thực hiện một đoạn video cần dịch chuyển khoảng 25 đến 30 frames/giây để làm hình ảnh và âm thanh thay đổi. Các dạng dữ liệu động khác như âm thanh và hoạt họa đều có mối quan hệ với thời gian.
Việc truyền đạt thông tin và ý nghĩa của thông tin trong thực tế cũng có rất nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, với dữ liệu đa phương tiện, các thông tin truyền đạt ý nghĩa nhanh và dễ hiểu hơn. Do vậy mà ngày nay dữ liệu đa phương tiện được sử dụng trong nhiều ứng dụng thực tế như nghệ thuật, giáo dục, giải trí, kỹ thuật, y học, toán học, và cả trong các nghiên cứu khoa học, v. Chính vì nhận thấy tầm quan trọng của dữ liệu đa phương tiện nên xuất hiện nhu cầu cần thiết về vấn đề quản lý như: Khả năng lưu trữ dữ liệu do kích thước dữ liệu đa phương tiện lớn hơn so với các dạng dữ liệu thông thường; Hỗ trợ truy vấn nhanh dữ liệu đa phương tiện do thời gian truyền tải dữ liệu khi truy vấn không thể quá chậm vì tại mỗi thời điểm ý nghĩa của dữ liệu đa phương tiện có thể thay đổi.
Hiện nay, có nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu ( Database Management Systems- DBMS) cho phép người dùng tạo và quản trị các loại cơ sở dữ liệu (CSDL) khác nhau. Mỗi một CSDL là một tập hợp dữ liệu có quan hệ với nhau. Khi làm việc với CSDL thì dữ liệu được xem như một tập các bản ghi. Tuy nhiên, do dữ liệu đa phương tiện có có tính chất và yêu cầu đặc biệt, khác xa với loại dữ liệu chữ và số.
CSDL truyền thống không phù hợp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trong việc quản lý dữ liệu đa phương tiện. Hơn nữa các kỹ thuật truy tìm thông tin có thể giúp truy tìm các đối tượng đa phương tiện nhưng chúng chưa có khả năng quản lý hiệu quả dữ liệu đa phương tiện vì vậy cần có CSDLĐPT. Hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu đa phương tiện ( Multimedia Database Management Systems- MMDBMS) là một khung làm việc để quản lý các kiểu dữ liệu khác nhau mà chúng được thể hiện trong rất nhiều khuôn dạng khác nhau. Để làm việc thành công thì một MMDBMS phải có các khả năng sau: Hỗ trợ các kiểu dữ liệu (Type=Structure+Operations) đa phương tiện: các media khác nhau như đã đề cập ở trên và các thao tác thông thường cũng như các thao tác đặc biệt mà kiểu dữ liệu thông thường không có như tiến, lùi, dừng.
Có khả năng quản lý số lượng lớn các đối tượng đa phương tiện: đề cập đến không gian lưu trữ của CSDL. Hỗ trợ hiệu năng cao, sức chứa cao và quản trị lưu trữ hiệu quả Có các khả năng của hệ CSDL truyền thống Có khả năng truy tìm thông tin đa phương tiện. Để xây dựng một CSDLĐPT hiệu quả thì nhiệm vụ thiết kế cơ sở dữ liệu đa phương tiện phải đảm bảo những yêu cầu gì, mục 2 sẽ trình bày rõ thêm. Các nhiệm vụ thiết kế và kiến trúc cơ sở dữ liệu đa phƣơng tiện[2,3] Như đã biết, định nghĩa CSDL đa phương tiện rất khác nhau.
Theo báo cáo của dự án nghiên cứu EURESCOM thì CSDL đa phương tiện là một CSDL có hiệu năng cao/sức chứa lớn với khả năng hỗ trợ các kiểu dữ liệu đa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 phương tiện cũng như các kiểu dữ liệu chữ số cơ bản khác và nó có thể quản lý một khối lượng rất lớn thông tin đa phương tiện. Chúng ta đang đối mặt với sự bùng nổ thông tin đa phương tiện. Thí dụ tồn tại một số lượng lớn ảnh và video trên Internet. Rất nhiều tranh vẽ, ảnh chụp đang được chuyển sang dạng số để dễ xử lý và phân tán hay bảo quản.
Các bức ảnh từ bản tin TV và trên báo cũng đang được chuyển sang dạng số để dễ dàng quản lý. Lượng lớn ảnh y tế, ảnh vệ tinh đang được thu thập hàng ngày. Xu thế này đã thúc đẩy phát triển công nghệ số lưu trữ và trình diễn. Không thể sử dụng nhanh và hiệu quả các thông tin đa phương tiện này nếu chúng không được tổ chức tốt để có khả năng truy tìm nhanh.
Không chỉ khối lượng dữ liệu đa phương tiện lưu trữ tăng nhanh mà các kiểu dữ liệu và đặc tính của chúng khác xa dữ liệu chữ và số. Sau đây là một vài tính chất chính của dữ liệu đa phương tiện: Khối lượng khổng lồ (đặc biệt với dữ liệu âm thanh và video). Thí dụ 10 phút video không nén có dung lượng 1,5 GB. Âm thanh và video có thêm chiều thời gian.
Dữ liệu ảnh, âm thanh và video được thể hiện bởi dãy các giá trị mẫu, không có cấu trúc nhất định để máy tính tự động nhận biết. Rất nhiều ứng dụng đa phương tiện đòi hỏi trình diễn đồng thời các loại media khác nhau.