Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM VÀ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Trực quan hóa Trực quan hóa là quá trình khai phá, chuyền đổi và biểu diễn dữ liệu sử dụng hình ảnh đại diện để đạt được cái nhìn sâu sắc về một sự vật hoặc một hiện tượng nào đó trong thiên nhiên và trong đời sống. Mục tiêu của trực quan dùng để phân tích, khai phá, nghiên cứu, minh họa, và truyền đạt thông tin dưới dạng dé hiểu. Trực quan hóa được sử dụng để thể hiện số lượng thông tin lớn một cách ngắn gon, mach lạc từ các quan điểm khác nhau theo nhiều mức độ chỉ tiết.
Nó cũng là công cụ mạnh mẽ được sử dụng cho quá trình nhận thức khác nhau như khai phá, phân tích và mô tả sự vật, hiện tượng. Trực quan hóa cần có phương pháp nhất định hoặc các thuật toán có thé chuyền đổi dữ liệu thô thành dữ liệu có ý nghĩa, có thé hiểu được và biểu diễn dé truyền đạt thong tin cho người sử dụng. Trong trường hợp này, trực quan hóa là quá trình xử lý hình ảnh, hoặc quá trình bổ sung thêm vào giá trị của việc tổ chức thông tin và xây dựng kiến thức, hoặc là quá trình giao tiếp giữa con người và dữ liệu. Trực quan hóa cung cấp ba chức ning cho thông tin: ghi lại, giao tiếp, và xử lý.
Mỗi chức năng sẽ làm việc phụ thuộc vào dang trực quan hóa. Chức năng ghi lại và giao tiếp thường biểu diễn dưới dạng đồ họa theo ý tưởng và chủ đề. Chức năng giao tiếp và xử lý là đưa ra các giải thích trên đồ họa cần được thực hiện trên dữ liệu. Trực quan hóa được thé hiện và biéu diễn ở nhiều dạng khác nhau như trực quan hóa dữ liệu, trực quan hóa thông tin, trực quan hóa khoa học, trực quan hóa địa lý.
Trực quan hóa dữ liệu là biểu điễn dữ liệu đưới dạng hình ảnh đồ họa một cách trực quan bằng các kỹ thuật rút trích dé liệu. Hình ảnh đồ họa sử dụng trong trực quan hóa dữ liệu có thé là hình động, bản đổ, đồ thị hoặc một hình ảnh đơn giản nào đó có kèm theo thành phan dữ liệu giúp con người truyền đạt được ý chính của chủ đề một cách dễ hiểu và chính xác. Trực quan hóa thông tin trình bày cách hiên thị cảm giác, hình ảnh đặc trưng, của dữ liệu trừu tượng để củng cố tăng cường nhận thức. Trực quan hóa thông tin là một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp.
Nó xây dựng trên lý thuyết thiết kế thông tin, đồ họa máy tính, con người tương tác với máy tính và khoa học nhận thức. Mục tiêu của trực quan hóa thông tin là giúp truyền tải thông tin từ nguồn cung cấp thông tin đến người tiếp nhận thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và dễ dàng nhất. Ung dụng thực tiễn của trực quan hóa thông tin là các chương trình máy tính đến việc lựa chọn, chuyển đổi và hiển thị các dữ liệu trừu tượng trong hình thức tạo điều kiện khác nhau của con người tương tác khảo sát và khai phá. Các lĩnh vực được ứng dụng trong trực quan hóa thông tin như quảng cáo (ví dụ: hình ảnh, âm thanh, video, văn bản,.), thiết kế giao diện người dùng (ví dụ thiết kế web, thiết kế giao diện phần mềm), thiết kế sản phẩm, hiền thị thông tin lịch sử (các bản đồ, các cuộc chiến tranh, các móc thời gian,.), thông tin kinh doanh (ví dụ biểu đồ thé hiện tăng trưởng, doanh thu, thị phan,.), các ứng dụng phân tích mang xã hội,.
Trực quan hóa khoa học thực hiện việc chuyển đổi, lựa chọn, hoặc hiển thi đữ liệu từ các mô tả hoặc các thí nghiệm, với cấu trúc hình học an hoặc rõ ràng, cho phép khảo sát, phân tích, va sự hiểu biết về các dữ liệu khoa học. Các lĩnh vực truyền thống trong khoa học là trực quan dòng chảy, trực quan y tế, trực quan vật lý thiên văn, và trực quan hóa học. Trực quan hóa khoa học tập trung sử dụng dé họa máy tính dé tạo ra hình ảnh trực quan hỗ trợ các nhận thức phức tạp, thông thường biểu diễn về khái niệm khoa học hoặc kết quả. Trực quan hóa địa lý là một phương pháp khám phá tri thức địa lý thu thập thông tin mô tả môi trường tự nhiên và con người trên trái đất, bao gồm: dữ liệu, mẫu hình dữ liệu nơi cung cấp cấu trúc dữ liệu, mẫu hình và phân tích các môi trường hiển thị dự đoán hoặc phân tích phù hợp, tóm lược các lập luận của dữ liệu, quy trình không gian địa lý, siêu dữ liệu mô tả các thành phần.
Mục đích chính của trực quan hóa địa lý nghiên cứu xác định các mối quan hệ không gian trong tập dữ liệu và đánh giá sự tác động của các tính năng đại diện, trình bay chỉ tiết và phức tạp của tập dữ liệu cho phép người xem thấy được toàn cảnh của công việc, truyền tải tất cả các thông tin và chất lượng tổng thể của công việc, ngoài ra trực quan hóa địa lý còn tạo điều kiện thuận lợi cho phương pháp phân tích không gian và cải thiện các hình ảnh đại diện của các phân tích phức tạp. Trực quan hóa thông tin là cả một quá trình để tận dụng các dữ liệu tài nguyên để đáp ứng các nhu cầu xã hội và mở rộng hon trong quá trình nghiên cứu đó là trực quan hóa thông tin dia lý (GIS) để ứng dụng dữ liệu không gian địa lý. Trực quan hóa địa lý được kết hợp công nghệ thông tin và các công cụ kỹ thuật hiện đại dé truy xuất, khai phá tri thức trong cơ sở dữ liệu và ứng dụng các kiến thức mới trên các thành phần như thiết bị, phần mềm, con người và địa điểm. Để giải quyết một van dé nào đó bằng trực quan hóa, việc tập hợp các thông tin sẽ được chuyền đổi dưới dạng các câu hỏi, sau đó xử lý cho sao cho thích hợp với môi trường trực quan và thích hợp với việc giải quyết dữ liệu của vấn đề đặt ra.
Có ba thành phần quan trọng trong giải việc quyết vấn đề bằng trực quan hóa: nhiệm vụ của người dùng, dữ liệu và biểu diễn trực quan.1 bên dưới minh họa cho ta thấy rõ hơn về các công việc đề thực hiện trực quan hóa: Nhiệm vụ của người dùng Phân tích đữ liệu Biểu diễn trực quan Các công cụ chức năng Hình 1.1: Giải quyết một van đề bằng trực quan: mối quan hệ giữa nhiệm vụ của người dùng, dữ liệu và biểu diễn trực quan 1. Các hợp phần cơ bản trong trực quan hóa của thế giới địa lý 1. Thời gian Thời gian là một phạm trù triết học, được các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu khái niệm về thời gian nên khái niệm về thời gian trong từng lĩnh vực cũng khác nhau. Vì vậy, thời gian có nhiều dạng khác nhau như thời gian của nhà triết học, thời gian của nhà khoa học, thời gian của người Phật tử, thời gian vật lý, thời gian tâm lý, thời gian sinh học, thời gian toán học, thời gian địa chất, thời gian thing doc, thời gian chu ky, thời gian ngày xưa và ngày nay, thời gian xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường, thời gian cá nhân và tập thể.
và còn bao nhiêu thời gian khác nữa. Ngày nay, chủ đề về thời gian vẫn là đề tài nóng dé các nhà khoa học nghiên cứu biểu diễn thời gian phong phú và đa dạng trên các công nghệ hiện đại. Thời gian là một khái niệm trực giác, mọi người đều nhận biết thời gian nhưng không thể thay, không thé sờ được [1]. Trong thế giới địa lý thời gian thay đổi liên tục và theo một qui luật tự nhiên và thời gian được nhận biết thông qua các đơn vị đo thời gian như năm, tháng, tuần, ngày, giờ, phút, giây,.
Thời gian có hai tính chất cơ bản là tính chất phân cấp và tính chất hạt [5], [29], [30]. Tính chất phân cấp được biểu diễn bởi cây thời gian phân cấp năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây,. Tính chất hạt của thời gian được biểu diễn sự chứa đựng lẫn nhau: năm chứa thang, tháng chứa ngày, ngày chứa giờ, giờ chứa phút, phút chứa giây. Ngoài ra thời gian còn có tính chất tuyến tính và tính chất tuần hoàn [5], [29], [30].
Tính chất tuyến tính tương ứng với nhận thức theo qui luật tự nhiên của chúng ta về thời gian như một chuỗi liên tục của từ quá khứ, hiện tại và tương lai (Ví dụ giá trị của năm là tuyến tính vì nó không bao giờ lặp lại mà chỉ tăng dần lên). Tính chất tuần hoàn được xác định bởi một tập hữu han sé nguyên dương dé biểu diễn thời gian theo chu kỳ (ví dụ thời gian trong ngày được biểu diễn bởi tập số nguyên từ 1 đến 24, phút trong giờ được biểu diễn bằng tập số nguyên từ 1 đến 60). Kích thước của thời gian gồm các thời điểm và thời đoạn được nhận biết trên trục thời gian. Thời điểm được nhận biết như các điểm trên trục thời gian 7.
Thời đoạn được nhận biết như các phân đoạn trên trục thời gian, từ vị trí í; đến vị trí 4 , trong đó i, je {0, 1, 2, .} được biểu diễn bởi At. Việc lựa chọn phù hợp với thời gian ban đầu phụ thuộc vào các thuộc tính của dữ liệu và các vấn đề có sẵn.2 là ví vụ minh hoa cho ta thấy rõ hơn về kích thước của thời gian: Hình 1.2: Biểu diễn thời điểm và thời đoạn trên trục thời gian 1. Không gian Không gian là khái niệm dùng để chỉ vị trí mà các thực thể hiện hữu. Không gian là nơi xảy ra một sự kiện hoặc nơi hiện diện của một thực thé nào đó.
Không gian và thời gian là một cặp phạm trù tương tác không tách rời, không gian là một trong ba thành phần chính của địa lý thời gian. Không gian được cảm nhận thông qua không gian địa lý [1]. Không gian địa lý được xác định bởi các đối tượng địa lý tự nhiên hoặc đối tượng địa lý do con người áp đặt (ví dụ biển là đối tượng địa lý tự nhiên, ranh giới biển giữa các nước là do đối tượng địa lý do con người áp đặt). Các đối tượng địa lý còn được dùng để tham chiếu vị trí không gian.
Các cách xác định vị trí không gian như sau: - Tọa độ chuẩn tham chiếu: các vị trí được xác định rõ ràng như biểu diễn các tọa độ cho khoảng cách đường thắng hoặc góc dé chắc chắn chọn trục tọa độ hoặc góc. - Phân chia tham chiếu : đề cập đến sự phân vùng theo hình học hoặc dựa vào ngữ nghĩa phân chia không gian, phân cấp.