CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG TY MẸ 1. Lý thuyết về công ty và sự xuất hiện của nhóm công ty 1. Tư cách pháp nhân và trách nhiệm hữu hạn Bàn về trách nhiệm của công ty mẹ đối với hành vi của công ty con, cần phải hiểu được hai nguyên tắc cơ bản trong lý thuyết về công ty là <tư cách pháp nhân= và <trách nhiệm hữu hạn=. Đây có lẽ là những lý thuyết nền tảng về công ty mà pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều công nhận và lịch sử của pháp luật doanh nghiệp hay pháp luật công ty của mọi quốc gia đều gắn liền với hai nguyên tắc cơ bản này.
Thuở sơ khai của lịch sử công ty, những người có cùng nhu cầu làm ăn kinh doanh cùng nhau tập hợp lại, cùng nhau tổ chức kinh doanh và cùng chia sẻ lợi ích cũng như rủi ro từ hoạt động kinh doanh chung. Công ty mà họ lập ra lúc này giống như một cơ chế giúp cho việc hoạt động và phân chia lợi nhuận giữa những người góp vốn được dễ dàng và thuận tiện. Những cá nhân tham gia thành lập công ty vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với những nghĩa vụ của công ty do không có sự tách bạch về mặt chủ thể giữa công ty và bản thân người thành lập công ty. Cùng với sự phát triển của kinh tế, việc kinh doanh dần trở nên phức tạp và rủi ro hơn khiến những người chủ công ty dần có tâm lý e ngại và thận trọng hơn khi quyết định lập công ty và đầu tư vốn vào kinh doanh.
Nhằm thúc đẩy đầu tư để tăng trưởng kinh tế, các nhà làm luật đã nghĩ ra một phương án tháo gỡ tâm lý e ngại này của những nhà đầu tư, đó là tạo ra một cơ chế để bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro mà họ có thể gặp phải trong những giao dịch của công ty mà họ góp vốn. Cơ chế đó chính là việc cho phép nhà đầu tư không phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các hoạt động của công ty. Theo đó, giới hạn trách nhiệm của nhà đầu tư đối với những khoản nợ của công ty chỉ nằm trong phạm vi số vốn đã góp, khi đã góp đủ vốn thì nhà đầu tư không phải chịu thêm bất cứ trách nhiệm nào về hoạt động của công ty. Để đảm bảo được tính trách nhiệm hữu hạn này, công ty đã được các nhà lập pháp coi là một chủ thể độc lập với người góp vốn thành lập ra nó mà trong khoa học pháp lý được gọi là <tư cách 12 pháp nhân=, một tấm màn che của công ty nhằm bảo vệ những người đứng đằng sau công ty đó.
Trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, án lệ Salomon v. Ltd năm 1897 tại Anh được coi là một dấu mốc mở ra một thời kỳ vận dụng linh hoạt và triệt để nguyên tắc thực thể pháp lý độc lập đối với công ty. Công ty Salomon & Co. Ltd được thành lập bởi ông chủ tiệm giày da Salomon bằng phần lớn tài sản của mình và.
hoạt động kinh doanh của công ty cũng được thực hiện bởi chính ông Salomon. nhiên, tòa án đã khẳng định công ty Salomon là một thực thể tồn tại độc lập, tách biệt. với chính người thành lập ra nó. Do đó, công ty là chủ thể duy nhất phải chịu trách.
nhiệm đối với chủ nợ của công ty còn ông Salomon không phải chịu trách nhiệm. lệ này khẳng định hai nội dung cơ bản mà sau này được các tòa án theo hệ thống. thông luật cũng như pháp luật các quốc gia theo hệ thống dân luật kế thừa và vận. dụng: Một là, công ty là một chủ thể pháp lý tồn tại độc lập và tách biệt với những người thành lập công ty, do đó, có các quyền và nghĩa vụ pháp lý riêng của nó (chính là tư cách pháp nhân); Hai là, trách nhiệm của người chủ công ty chỉ gói gọn trong.
phạm vi số vốn mà người đó đã đầu tư vào công ty (tính trách nhiệm hữu hạn). Để hiểu rõ hơn về <tư cách pháp nhân= và <trách nhiệm hữu hạn= trước khi đi vào những vấn đề chính, bài luận sẽ dành một phần nội dung dưới đây để tìm hiểu nguồn gốc pháp lý của hai khái niệm này. Trách nhiệm hữu hạn và ý nghĩa của trách nhiệm hữu hạn Trách nhiệm hữu hạn chính là cơ chế đặc quyền mà luật pháp đã trao cho những nhà đầu tư để gạt đi tâm lý e ngại của họ khi quyết định góp vốn vào công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh. Trách nhiệm hữu hạn ở đây là trách nhiệm của người đứng đằng sau công ty chứ không phải trách nhiệm của công ty.
Công ty đương nhiên phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các rủi ro trong kinh doanh, còn người góp vốn thì chỉ mất số tiền mà họ đã đầu tư vào công ty nếu công ty kinh doanh thua lỗ. Cho đến nay, trách nhiệm hữu hạn dường như đã trở thành lý thuyết căn bản trong khoa học pháp lý và được thừa nhận rộng rãi ở Việt Nam. Thực vậy, ngay từ trong Luật Công ty năm 1990, rồi sau này là đến các thế hệ Luật Doanh nghiệp về 13 sau đều tiếp tục khẳng định nguyên tắc này. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đề cập đến nguyên tắc này như sau: - Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên “chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp”2 - Thành viên hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn “chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”3 - Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên “chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”4 - Cổ đông công ty cổ phần <chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp”5 - Đối với công ty hợp danh, “thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty”6 và thành viên góp vốn có nghĩa vụ “Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp”7.
Những quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn chắc chắn đã được xây dựng trên cơ sở kế thừa từ các nền lập pháp tiên tiến trên thế giới. Mặc dù vậy, việc xác định nguồn gốc hình thành của cơ chế trách nhiệm hữu hạn chưa bao giờ là dễ dàng với các nhà nghiên cứu.Woolridge của cuốn sách <The Company – A short History of a revolutionary idea= (tạm dịch: <Công ty – Lịch sử ngắn của một ý tưởng có tính chất cách mạng=) do nhà xuất bản The modern library của New York phát hành năm 2003, dấu hiệu về sự hình thành công ty được ghi nhận từ khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, từ 2 Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020 3 Khoản 1 Điều 50 Luật Doanh nghiệp 2020 4 Khoản 1 Điều 74 Luật Doanh nghiệp 2020 5 Điểm c Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020 6 Điểm c Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020 7 Điểm a Khoản 2 Điều 187 Luật Doanh nghiệp 2020 14 người Ass yria, Phoenicia rồi người Hy Lạp8. Nhưng mãi đến thời La Mã cổ đại, tính. trách nhiệm hữu hạn mới được nhen nhóm hình thành trong các corpora hay collegia.
Sự phát triển của tính trách nhiệm hữu hạn sau đó song hành cùng với sự ra đời và bánh trướng mạnh mẽ của công ty cổ phần ở Mỹ và khắp châu Âu9. Tuy nhiên, ở Anh, ban đầu tính trách nhiệm hữu hạn chỉ được áp dụng cho lĩnh vực kinh doanh quốc tế. Phải đến năm 1441, cơ chế trách nhiệm hữu hạn mới được trao một cách đầy đủ hơn cho một vài trường hợp ở quốc gia này. Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, cơ chế trách nhiệm hữu hạn được áp dụng rộng rãi và giúp cho các Bang của Hoa Kỳ thu hút được nhiều vốn đầu tư để phát triển sản xuất.
Trước sự phát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ, Anh đã không thể tiếp tục đứng ngoài cuộc chơi nên đã ban hành đạo luật về trách nhiệm hữu hạn (“Limited Liability Act”) vào năm 1855 để áp dụng rộng rãi cơ chế trách nhiệm hữu hạn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế. Ở một số nước châu Âu khác như Pháp, quy định về trách nhiệm hữu hạn đi sau Mỹ và Anh khi mà đến năm 1863 luật công ty trách nhiệm hữu hạn mới được ra đời. Tuy nhiên, ngay cả khi các quốc gia đã có những định chế pháp lý về trách nhiệm hữu hạn thì thực tế ý niệm trọn vẹn của nguyên tắc này vẫn còn được tranh cãi nhiều. Như tại phần dẫn nhập về tư cách pháp nhân và trách nhiệm hữu hạn mà bài luận đã nêu, chỉ đến khi vụ kiện Salomon v.
năm 1897 được Thượng Nghị viện Anh đưa ra phán quyết, các ý niệm về nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn mới được củng cố. Vụ kiện này sau đó đã được xem như là một án lệ mang tính dấu mốc và là nền tảng của pháp luật về công ty hiện đại. Về mặt kinh tế, cơ chế trách nhiệm hữu hạn là một cơ chế hữu hiệu để khuyến khích đầu tư và thúc đẩy kinh tế. Ngoài khả năng thu hút nguồn lực của xã hội vào hoạt động kinh tế, cơ chế trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra một sự chuyển dịch rủi ro về tài chính từ nhà đầu tư sang cho chủ nợ của công ty.
Khi nhà đầu tư góp vốn vào công ty là họ đã sẵn sàng chấp nhận rủi ro đối với số tiền đó, còn các đối tác hay chính các chủ nợ khi giao dịch với công ty thì xác định rõ ràng công ty mới là con nợ của mình 8 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp, NXB Tri thức, Hồ Chí Minh, trang 32 đến trang 37 9 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Thương mại – Phần chung và thương nhân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 157 15 và từ đó có động cơ để giám sát hoạt động của công ty một cách chặt chẽ hơn.