Đặt vấn đề Trong những năm trở lại đây, nhu cầu xây dựng ngày càng được tăng cao, do đó nhu cầu gạch xây dựng được tăng cao và cấp thiết. Tuy nhiên quá trình sản xuất gạch đất nung sử dụng đất mặt sẽ gây tiêu tốn rất nhiều đất canh tác, làm mất diện tích đất (đất phù sa, đất ruộng, đất sét…). Ngoài ra, một lượng lớn than hóa thạch, củi đốt dẫn đến tình trạng phá rừng, mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta. Song song đó, những nguồn tài nguyên này đã bắt đầu đang cạn kiệt và chắc chắn sẽ không còn nhiều trong tương lai.
Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất gạch đất sét nung, khói lò thoát ra khi nung gạch đỏ sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh. Việc chuyển công nghệ nung đốt từ than, củi của lò thủ công sang nung công nghiệp bằng than, dầu DO, khí đồng hành trong các lò liên tục (tunnel) đang diễn ra gần đây đã giúp cải thiện một phần vấn đề ô nhiễm nhưng về lâu dài, gạch đất sét nung vẫn được sử dụng trước khi được thay thế dần trên thị trường. Tro xỉ là một phụ phẩm không thể loại bỏ trong quá trình sản xuất nhiệt điện than. Nhu cầu điện năng ngày càng lớn nếu loại phế thải này không được thu gom, tận dụng sẽ không chỉ là một sự lãng phí lớn mà còn là một hiểm họa đối với môi trường - nhất là trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hiện nay.
Tro xỉ hiện đang gây ra rất nhiều vấn đề về môi trường khi được sử dụng với vai trò chôn lấp hoặc để tự do phát tán ra không khí cũng như thôi nhiễm kim loại nặng vào nước. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, xử lý, tận dụng tro xỉ trong các lĩnh vực xây dựng dân dụng đã và đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, tùy vào công nghệ đốt của các nhà máy tro xỉ lại có thành phần hóa khác biệt - lẫn nhiều tạp chất và không đồng nhất nên cần biện pháp xử lý đặc biệt sử để có thể đưa vào trong sản xuất vật liệu xây dựng do đặc điểm hóa lý của loại nguyên liệu này gây ra một số khó khan trong quá trình chế tạo vật liệu ứng dụng. Xuất phát từ những vấn đề phân tích trên, đề tài “Tổng hợp Vật liệu từ tro xỉ nhiệt điện dùng thay thế gạch đất sét nung” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Nghiên cứu tiêu chuẩn: Gạch đặc đất sét nung TCVN 1451:1998 - Nghiên cứu về công nghệ sản xuất Gạch đất sét nung. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu Phương pháp gia công tạo hình của Vật liệu tổng hợp từ tro xỉ cùng chất kết dính; từ đó kiểm tra các tính chất của vật liệu được tổng hợp. Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu tổng hợp vật liệu từ tro xỉ nhiệt điện (sử dụng tro xỉ Nhiệt điện Mông Dương) trong điều kiện tương đồng về công nghệ và đạt các tính chất cơ bản của gạch đất sét nung nhằm thay thế cho loại vật liệu này. Tro xỉ được dùng với các chất kết dính: Vôi tôi hoặc đất sét để hỗ trợ việc kết dính tạo hình mộc, từ đó xác định 1 số tính chất cơ lý của Vật liệu tổng hợp được.
Để thực hiện các mục tiêu trên, cần thực hiện các nội dung nghiên cứu sau: Chế tạo vật liệu có hàm lượng tro xỉ lên đến 90% với hai chất kết dính là đất sét và sữa vôi; Nghiên cứu các tính chất hóa lý của "vật liệu" gồm có cường độ nén, cường độ uốn, độ hút nước và khối lượng thể tích (so sánh với tiêu chuẩn Gạch đặc đất sét nung); Ảnh hưởng của chất kết dính (vôi tôi, đất sét) và nhiệt độ nung đến tính chất hóa lý của "vật liệu" (cường độ nén, cường độ uốn, độ hút nước và khối lượng thể tích). Gạch đất sét nung I. Giới thiệu về gạch đất sét nung Gạch đất sét nung thuộc loại gốm thô, kết khối thấp, bề mặt nhám, và có độ hút nước cao. Gạch đất sét nung là sản phẩm được chế tạo từ các loại đất sét dễ chảy (có hoặc không có phụ gia), được tạo hình dẻo hoặc ép bán khô, sấy và cuối cùng là nung ở nhiệt độ thích hợp.
Gạch đất sét nung thường được chế tạo theo các tiêu chuẩn như sau: Tiêu chuẩn TCVN 1451:1998 (chế tạo gạch đặc) và tiêu chuẩn TCVN 1450:2009 (chế tạo gạch rỗng). Gạch đất sét nung được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp xây dựng dân dụng do nó phù hợp và sử dụng thuận lợi để làm các kết cấu của các công trình. Do điều kiện kinh tế và trình độ khoa học của nước ta còn hạn chế nên nhiều loại vật liệu mới trên thế giới còn chưa được sử dụng rộng rãi, mặt khác do quan niệm truyền thống - gạch đất sét nung vẫn được sử dụng phần lớn vào các công trình xây dựng cả dân dụng và công nghiệp. Vì lẽ đó gạch đất sét nung vẫn là sự lựa chọn ưu tiên hàng đầu cho các công trình xây dựng ở thời điểm hiện tại và trong tương lai gần.
Gạch đất sét nung được phân thành các loại như sau: a) Theo cấu trúc: - Gạch có cấu trúc đặc. - Gạch có cấu trúc xốp. b) Theo phương pháp tạo hình: - Gạch tạo hình dẻo. - Gạch tạo hình bán khô.
c) Theo dạng gạch có hay không có lỗ rỗng: - Gạch đặc (không có lỗ rỗng). - Gạch có lỗ rỗng. d) Theo công dụng: - Gạch trong xây dựng để xây tường và các chi tiết bao che. - Gạch để xây tường lò trong các thiết bị nhiệt.
=> Trong phạm vi Luận văn này, đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là Vật liệu được tổng hợp từ tro xỉ nhiệt điện, so sánh với gạch đặc đất sét nung. Tiêu chuẩn kỹ thuật của gạch đất sét nung Gạch đặc đất sét nung theo tiêu chuẩn TCVN 1451-1998 có dạng hình hộp chữ nhật với các mặt bằng phẳng. Trên các mặt của gạch có thể có rãnh hoặc gợn khía. Cạnh viên gạch có thể lượn tròn với bán kính không lớn hơn 5mm (theo mặt cắt vuông góc với phương đùn ép).
- Yêu cầu về kích thước gạch đất sét nung theo tiêu chuẩn TCVN 1451-1998: 1 Bảng I.1: Yêu cầu kích thước gạch đặc đất sét nung Tên kiểu gạch Dài Rộng Dày Gạch đặc 60 220 105 60 Gạch đặc 45 190 90 45 * Ghi chú: Kích thước gạch có thể khác với bảng trên nhưng phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. - Một số chỉ tiêu cơ lý của gạch đất sét nung theo tiêu chuẩn TCVN 1451-1998: Bảng I.2: Yêu cầu cường độ uốn và nén của Gạch đặc Cường độ nén (MPa) Cường độ uốn (MPa) TT Mác gạch Trung bình Nhỏ nhất Trung bình Nhỏ nhất cho 5 mẫu cho 1 mẫu cho 5 mẫu cho 1 mẫu thử thử thử thử 1 M50 5,0 3,5 1,6 0,8 2 M75 7,5 5,0 1,8 0,9 3 M100 10,0 7,5 2,2 1,1 4 M125 12,5 10,0 2,5 1,2 5 M150 15,0 12,5 2,8 1,4 6 M200 20,0 15,0 3,4 1,7 * Ghi chú: 1MPa = 106 N/m² - Độ hút nước của gạch đặc đất sét nung, không lớn hơn 16% - Số vết tróc do vôi trên bề mặt viên gạch có kích thước trung bình từ 5 đến 10mm không quá 3 vết. Sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung I. Ưu điểm của gạch đất sét nung Các loại vật liệu xây dựng phổ biến hiện nay bao gồm gạch đất sét nung, vữa-bê tông, gạch bê tông khí, các loại vạch bằng nhôm hoặc gỗ, thạch cao hay các loại đá nhân tạo.
Mỗi loại có các đặc tính riêng biệt và được ứng dụng nhiều trong xây dựng, trang trí. Gạch đất sét nung có lịch sử lâu đời nhất, tiếp theo đó là vữa bê tông và sau này là các loại đá nhân tạo, gạch bê tông khí và các loại vách nhôm, gỗ hay thạch cao. Càng về sau, các loại vật liệu xây dựng càng có nhiều ưu điểm phù hợp với thị hiếu cũng như đặc điểm môi trường. Dù ra đời từ rất sớm và còn có nhiều hạn chế nhưng gạch đất sét nung vẫn có chỗ đứng trên thị trường nhờ các ưu điểm riêng của mình.
Về mặt màu sắc, gạch đất sét nung có màu sắc được bảo tồn tốt theo thời gian do được nung ở nhiệt độ cao, gạch ít có phản ứng với các tác nhân từ môi trường nên 2 có thể giữ được tình trạng như khi mới sản xuất. Cần chú ý vệ sinh vì gạch có cấu trúc không hoàn toàn đặc chắc, trên bề mặt dễ xuất hiện rêu mốc theo thời gian. Về mặt cường độ, gạch đất sét nung có cường độ thông thường khoảng 40-70MPa. Cường độ cao này cho phép các tác động bình thường trong xây dựng như khoan, cắt, treo đồ mà không làm hỏng kết cấu gạch cũng như tường xây bằng gạch.
Trong khi đó, các loại vật liệu khác như vữa bê tông, gạch bê tông khí có khả năng chịu kéo thấp, dễ vỡ vụn. Các loại tấm tường bằng gỗ hay thạch cao, nhôm không có khả năng treo vật nặng. Gạch đất sét nung có khả năng cách nhiệt tương đối tốt tương tự như các loại gạch bê tông khí. Trong khi các loại tấm ốp tường thường có độ dày thấp, khả năng dẫn nhiệt tốt.
Điều này tác động đến trải nghiệm sinh hoạt trong không gian được bao quanh. Gạch đất sét nung khiến ngôi nhà “đông ấm, hạ mát”, tạo môi trường sống thích hợp, thoải mái. Gạch đất sét nung luôn là vật liệu hoàn thiện, cần rất ít hoặc không cần thiết phải bảo trì. Khi có các vết trầy xước, lồi lõm, méo mó và bị biến dạng thì sự thay thế là cần thiết.
Những chỗ trít rất quan trọng và đòi hỏi phải chú ý thường xuyên. Gạch đất sét sẽ ngày càng tốt hơn theo thời gian và hầu như không cần yêu cầu phải bảo trì. Tình hình sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung Gạch đất sét nung để xây tường đang chiếm khoảng 50 - 70%. Công nghệ sản xuất bằng lò đứng thủ công đã bị xóa bỏ hoàn toàn.
Lò nung Tunnel kiểu cũ để sản xuất gạch nung cũng đang giảm dần vì năng suất thấp, chất lượng sản phẩm không cao, nguồn nguyên liệu sét dẻo đang cạn dần và việc siết chặt quản lý đất đai sẽ dẫn đến thời kỳ khai tử xu hướng sản xuất bằng công nghệ này. Nguồn sét dẻo chất lượng tốt được sử dụng, lựa chọn để sản xuất ngói lợp và các sản phẩm cao cấp khác có giá trị kinh tế hiệu quả hơn.