Luận văn: Nghiên cứu tổng hợp tiếng Việt cho hệ thống tài nguyên hạn chế

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tổng hợp tiếng Việt cho hệ thống tài nguyên hạn chế. Đề xuất các phương pháp tối ưu, nâng cao hiệu quả tổng hợp.

Chuyên ngành

Công Nghệ Thông Tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2011

70
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔNG HỢP TIẾNG NÓI VÀ HỆ THỐNG TÀI NGUYÊN HẠN CHẾ

1.1. Giới thiệu về tổng hợp tiếng nói

1.2. Các phương pháp tổng hợp tiếng nói

1.2.1. Tổng hợp theo cấu âm

1.2.2. Tổng hợp formant theo quy luật

1.2.3. Tổng hợp ghép nối

1.2.4. Tổng hợp xích chuỗi

1.2.5. Tổng hợp dựa trên thống kê

1.3. Các đặc trưng cơ bản của ngữ âm tiếng Việt

1.3.1. Cấu trúc âm tiết tiếng Việt

1.3.2. Phân loại âm tiết tiếng Việt

1.4. Một số đặc trưng cơ bản của ngôn điệu tiếng Việt

1.4.1. Tần số cơ bản F0

1.5. Giới thiệu về các hệ thống tài nguyên hạn chế

2. CHƯƠNG 2: TỔNG HỢP TIẾNG NÓI TỪ VĂN BẢN VÀ YÊU CẦU TRÊN HỆ THỐNG TÀI NGUYÊN HẠN CHẾ

2.1. Các thành phần cơ bản của hệ thống tổng hợp tiếng nói từ văn bản

2.1.1. Thành phần xử lý ngôn ngữ tự nhiên

2.1.1.1. Phân tích văn bản
2.1.1.2. Chuyển ký tự thành âm thanh
2.1.1.3. Sinh ngôn điệu

2.1.2. Thành phần xử tín hiệu số

2.2. Tổng hợp tiếng nói trên hệ thống hạn chế tài nguyên

2.2.1. Hệ tổng hợp tiếng nói HTS

2.2.2. Hệ tổng hợp tiếng Việt VnVoice

2.2.2.1. Mô tả hệ thống
2.2.2.2. Thay đổi cao độ tần số cơ bản với PSOLOA
2.2.2.3. Làm trơn biên ghép nối các âm tiết

3. CHƯƠNG 3: TỐI ƯU HÓA LƯU TRỮ VÀ TÍNH TOÁN TÍN HIỆU TIẾNG NÓI CHO HỆ TỔNG HỢP VNVOICE

3.1. Lựa chọn hệ tổng hợp cơ sở

3.2. Một số phương pháp biểu diễn số

3.3. Nén tín hiệu tiếng của các bán âm tiết với ADPCM

3.4. Tối ưu tính toán thuật toán ghép nối tín hiệu

3.5. Sơ đồ quá trình sinh tiếng nói sau khi tối ưu

3.6. Cấu trúc CSDL âm thanh sau khi đã tối ưu

3.7. Cực tiểu hóa lưu trữ các đoạn âm thanh

3.8. Phân tích khả năng áp dụng giải pháp tối ưu cho việc xây dựng hệ thổng hợp tiếng Việt trên hệ thống tài nguyên hạn chế

4. CHƯƠNG 4: XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔNG HỢP TIẾNG VIỆT TRÊN HỆ THỐNG TÀI NGUYÊN BỘ NHỚ HẠN CHẾ

4.1. Xây dựng chương trình thử nghiệm

4.1.1. Quy trình hệ thống

4.1.2. Chức năng hệ thống

4.1.3. Các lớp tham gia usecase

4.1.4. Biểu đồ trình tự

4.1.5. Giao diện chương trình

4.2. Các điểm trong giải pháp được áp dụng trong VnPDA

4.3. Thử nghiệm khả năng tích hợp trên hệ thống tài nguyên hạn chế

4.4. So sánh chất lượng giọng tổng hợp giữa chương trình thử nghiệm với hệ tổng hợp VnVoice và phiên bản VnSpeech chạy trên nền tảng Window Mobile

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tổng Hợp Tiếng Việt Tài Nguyên Hạn Chế

Xử lý tiếng nói là một lĩnh vực liên ngành, kết hợp nghiên cứu tín hiệu tiếng nói và các phương pháp xử lý. Tín hiệu tiếng nói được số hóa và xử lý bằng các kỹ thuật từ xử lý tín hiệu số và xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Trên thế giới, lĩnh vực này đã có lịch sử phát triển lâu dài. Tại Việt Nam, trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, đã xuất hiện một số sản phẩm cả về tổng hợp và nhận dạng tiếng nói. Khi xử lý tiếng nói trên máy tính đạt được những tiến bộ đáng kể, các nhà nghiên cứu bắt đầu tập trung vào việc xây dựng hệ thống trên các hệ thống có tài nguyên hạn chế. Điều này mở ra khả năng giao tiếp bằng tiếng nói trên các thiết bị có khả năng tính toán và lưu trữ hạn chế. Các hệ thống này cần sử dụng lượng bộ nhớ và chi phí tính toán nhỏ. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đạt được những thành công, thậm chí trên các hệ thống có tài nguyên rất khiêm tốn. Ở Việt Nam, nhu cầu nghiên cứu giải pháp xây dựng hệ xử lý tiếng nói trên các hệ thống tài nguyên hạn chế cũng đã xuất hiện trong một số năm gần đây, với các đề tài nghiên cứu về việc chuyển hệ xử lý tiếng nói lên các hệ thống di động cầm tay và hệ thống nhúng. Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số phương pháp tổng hợp tiếng nói và đề xuất cách thức tối ưu trên hệ thống hạn chế tài nguyên. Việc nghiên cứu này sẽ tập trung vào các phương pháp tổng hợp, các thách thức khi triển khai trên tài nguyên hạn chế và các kỹ thuật tối ưu hóa để đạt được hiệu quả cao nhất. Theo [Nguyễn Tu Trung], nhu cầu về các hệ thống này ngày càng tăng do sự phổ biến của thiết bị di động và hệ thống nhúng.

1.1. Ứng dụng của Tổng hợp tiếng nói trong thực tiễn

Tổng hợp tiếng nói đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực học ngoại ngữ, nó có thể hỗ trợ người nước ngoài học phát âm và luyện nghe. Với người tàn tật, hệ thống tổng hợp tiếng nói kết hợp với nhận dạng chữ viết có thể đọc văn bản cho người mù, hoặc giúp người mất khả năng nói giao tiếp thông qua soạn thảo văn bản. Trong truyền thông tin, tổng hợp tiếng nói có thể đọc sách điện tử, bản tin, và mệnh lệnh, giúp tiếp thu thông tin dễ dàng hơn. Trong lưu trữ và khai thác dữ liệu, nó có thể thay thế dữ liệu âm thanh bằng văn bản để tiết kiệm không gian lưu trữ và dễ dàng tìm kiếm. Trong viễn thông, tổng hợp tiếng nói được sử dụng trong các ứng dụng trả lời tự động IVR. Cuối cùng, nó còn được ứng dụng trong các trò chơi, thiết bị báo động, hệ thống chống trộm, và thiết bị giải trí. Mặc dù còn hạn chế, những kết quả đạt được đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực cụ thể, đem lại những kết quả nhất định. Các ứng dụng này tập trung ở các lĩnh vực sau: • Học ngoại ngữ • Trợ giúp người tàn tật • Truyền thông tin bằng âm thanh, đọc sách điện tử • Trong lưu trữ và khai thác dữ liệu • Trong viễn thông • Thông tin đa phương tiện • Các ứng dụng khác

1.2. Những khó khăn trong Tổng hợp tiếng Việt

Tổng hợp tiếng nói từ văn bản là một ngành khoa học liên quan đến nhiều ngành khoa học khác như: ngôn ngữ, xử lý tín hiệu và khoa học máy tính. Hiện nay với nỗ lực nghiên cứu của các nhà khoa học công nghệ trên thế giới, chất lượng âm thanh tổng hợp hiện tại đã vượt qua ngưỡng nghe hiểu đơn giản và đang tiến dần tới mức độ nói tự nhiên của con người. Trong một số ứng dụng ngôn ngữ hẹp, chất lượng âm thanh đã gần như không thể phân biệt với ngôn ngữ tự nhiên. Trong xu thế hội nhập thế giới, cùng với sự hấp dẫn của khoa học nhận dạng, ở Việt Nam, trong những năm vừa qua đã có những đề tài nghiên cứu về tổng hợp tiếng nói và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định. Công nghệ cho việc tổng hợp tiếng nói từ văn bản có số từ vựng không hạn chế chất lượng cao có những phức tạp chung là một lẽ, song một vấn đề nữa là nó còn phụ thuộc từng ngôn ngữ riêng biệt. Không thể lấy các phần mềm tổng hợp tiếng nói Anh, Pháp, Đức, Nhật, . để đọc văn bản chữ Việt. Hơn nữa, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm đa thanh điệu. Vì vậy, không ai khác mà chính là các nhà khoa học Việt Nam phải tự tiến hành xây dựng công nghệ tổng hợp tiếng nói cho mình.

II. Các Phương pháp Tổng Hợp Tiếng Việt cho Tài Nguyên Hạn Chế

Có nhiều phương pháp tổng hợp tiếng nói khác nhau, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng. Các phương pháp chính bao gồm tổng hợp theo cấu âm, tổng hợp formant theo quy luật, tổng hợp ghép nối, tổng hợp xích chuỗi và tổng hợp dựa trên thống kê. Tổng hợp theo cấu âm mô phỏng bộ máy phát âm của con người, nhưng hiện còn nhiều hạn chế về mặt lý thuyết. Tổng hợp formant theo quy luật sử dụng các quy luật để tạo ra âm thanh từ các tham số formant, nhưng chất lượng tiếng nói thường không tự nhiên. Tổng hợp ghép nối ghép các đoạn tiếng nói đã ghi âm sẵn, cho tiếng nói tự nhiên nhất, nhưng đòi hỏi bộ nhớ lớn. Tổng hợp xích chuỗi loại bỏ bớt các quy luật, lưu trữ trực tiếp các đoạn âm thanh. Tổng hợp dựa trên thống kê sử dụng các mô hình thống kê để tạo ra tiếng nói. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào yêu cầu về chất lượng, bộ nhớ, và khả năng tính toán của hệ thống. Trong bối cảnh tài nguyên hạn chế, việc lựa chọn phương pháp tối ưu là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả và chất lượng.

2.1. Tổng hợp tiếng nói theo cấu âm Ưu và nhược điểm

Tổng hợp theo cấu âm sử dụng mô hình phỏng sinh học. Trong mô hình này, tiếng nói được đặc trưng không chỉ bằng tín hiệu âm thanh mà cả bằng vị trí của các cơ quan cấu âm, sự tham gia của khoang mũi, áp suất không khí trong phổi, lực căng của dây thanh. Nó bao gồm hoạt động tương tác phi tuyến giữa nguồn kích (chấn động dây thanh hoặc hỗn loạn không khí) và trở kháng đầu vào thay đổi theo thời gian của ống thanh. Phương pháp này còn được gọi là tổng hợp theo mô hình hệ thống. Để xây dựng đặc trưng âm thanh của cơ quan phát âm, hệ thống phải tham số hoá được hình khối ống thanh và ống mũi, phải lựa chọn được một mô hình để mô tả sự lan truyền của sóng trong ống thanh và mô hình hoá nguồn âm (chấn động dây thanh, dòng không khí hỗn loạn) và sự tương tác của nó với ống thanh. Phương pháp này hiện nay chỉ hình thành trên lý thuyết, thực tế ngành khoa học phỏng sinh chưa có đủ thông tin đầu đủ để mô phỏng theo cấu âm. Do chất lượng tiếng nói tổng hợp theo cấu âm còn rất thấp, phương pháp này hiện nay chỉ dừng ở trong phòng thí nghiệm hay sản phẩm mẫu mà chưa được ứng dụng thực tế.

2.2. Tổng hợp theo phương pháp ghép nối

Tổng hợp ghép nối dựa trên việc ghép nối các đoạn tiếng nói đã ghi âm sẵn. Nói chung, tổng hợp ghép nối cho tiếng nói tổng hợp nghe tự nhiên nhất. Tuy nhiên, độ tự nhiên của tiếng nói và các kỹ thuật tự động phân đoạn sóng âm thanh đôi khi dẫn đến nghe rõ sự không đều của thiết bị ở đầu ra làm giảm độ tự nhiên [20]. Có ba loại tổng hợp ghép nối: tổng hợp chọn đơn vị, tổng hợp diphone (hai nửa của hai âm vị liền nhau) và tổng hợp theo miền. Tổng hợp chọn đơn vị sử dụng CSDL tiếng nói lớn. Trong quá trình tạo cơ cở dữ liệu, mỗi phát âm được thu âm sẽ được phân thành các âm vị, âm tiết, hình vị, từ, cụm và các câu riêng. Tổng hợp diphone dùng CSDL tiếng nói nhỏ nhất chứa toàn bộ các diphone xuất hiện trong ngôn ngữ. Số lượng diphone phụ thuộc vào cách phiên âm của từng loại ngôn ngữ. Tổng hợp theo miền cụ thể là việc ghép các từ và các cụm được ghi sẵn lưu trong CSDL để tạo thành lời nói hoàn chỉnh.

III. Tối Ưu Lưu Trữ và Tính Toán trong VnVoice cho TH Tiếng Việt

Để triển khai hệ thống tổng hợp tiếng nói trên các thiết bị có tài nguyên hạn chế, việc tối ưu hóa là rất quan trọng. Điều này bao gồm việc giảm kích thước lưu trữ của dữ liệu âm thanh và giảm chi phí tính toán. Có nhiều kỹ thuật có thể được sử dụng để tối ưu hóa lưu trữ, bao gồm nén dữ liệu âm thanh và sử dụng các định dạng dữ liệu hiệu quả. Để tối ưu hóa tính toán, có thể sử dụng các thuật toán hiệu quả hơn và giảm độ phức tạp của các phép toán. Việc lựa chọn các kỹ thuật tối ưu hóa phù hợp phụ thuộc vào các yêu cầu cụ thể của ứng dụng và các hạn chế của hệ thống. Các phương pháp biểu diễn số, chẳng hạn như dấu chấm tĩnh, có thể giúp giảm chi phí tính toán trên các hệ thống hạn chế tài nguyên.

3.1. Biểu diễn số dấu chấm tĩnh

Phương pháp biểu diễn số thực với dấu phảy tĩnh có đặc điểm là vùng biểu diễn số nguyên bị hạn chế bởi dấu phảy tĩnh được gán cố định. Điều này dễ xảy ra hiện tượng tràn số khi thực hiện phép nhân hai số lớn. Ưu điểm của phương pháp này là tốc độ tính toán nhanh do các thao tác tương tự như số nguyên. Với hệ thống tài nguyên hạn chế, phương pháp này tỏ ra phù hợp hơn. Các phép toán dấu phảy tĩnh như cộng, trừ, nhân, chia sẽ có công thức tính kết quả khác so với các dạng số khác.

3.2. Nén tín hiệu tiếng với ADPCM

PCM vi sai thích ứng (ADPCM - Adaptive Differential Pulse Code Modulation) tổ hợp phương pháp DPCM và PCM thích ứng. Đây là phương pháp mã hóa dữ liệu khá kinh điển trong kĩ thuật truyền dẫn. Nó được sử dụng để nén tín hiệu trong truyền dữ liệu. Với bộ mã hóa, đầu vào PCM đươch chuyển đổi thành PCM thống nhất. Một tín hiệu lệch thu được bằng cách trừ một ước lượng của tín hiệu đầu vào từ chính tín hiệu đầu vào đó. Việc chuyển đổi lưu trữ các đoạn tín hiệu của các bán âm từ dạng PCM 16bit về dạng ADPCM 4bit sẽ giúp giảm kích thước dữ liệu đi bốn lần. Khi này, trong CSDL sẽ lưu dữ liệu âm thô dạng ADPCM. Khi tổng hợp, sau khi lấy dữ liệu tương ứng với bán âm tiết, hệ tổng hợp thực hiện việc giải mã để thu được tín hiệu dạng PCM.

IV. Xây Dựng Hệ Thống Tổng Hợp Tiếng Việt Tối Ưu trên Tài Nguyên Hạn Chế

Việc xây dựng một hệ thống tổng hợp tiếng Việt hiệu quả trên các hệ thống tài nguyên hạn chế đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố như chất lượng âm thanh, kích thước bộ nhớ và chi phí tính toán. Các kỹ thuật tối ưu hóa cần được áp dụng để đảm bảo hệ thống hoạt động trơn tru và hiệu quả. Việc lựa chọn phương pháp tổng hợp phù hợp, kết hợp với các kỹ thuật nén dữ liệu và biểu diễn số hiệu quả, có thể giúp đạt được kết quả tốt nhất. Việc thử nghiệm và đánh giá hệ thống trên các thiết bị thực tế là rất quan trọng để đảm bảo hiệu suất và chất lượng.

4.1. Lựa chọn phần cứng và phần mềm

Việc lựa chọn phần cứng và phần mềm phù hợp là rất quan trọng để xây dựng một hệ thống tổng hợp tiếng Việt hiệu quả trên các hệ thống tài nguyên hạn chế. Cần xem xét các yếu tố như khả năng tính toán, bộ nhớ, và hệ điều hành của thiết bị. Các nền tảng nhúng như ARM hoặc các vi điều khiển có thể là lựa chọn phù hợp cho các ứng dụng có yêu cầu khắt khe về tài nguyên. Về phần mềm, cần lựa chọn các thư viện và công cụ phát triển tối ưu hóa cho hiệu suất và kích thước mã.

4.2. Kiểm thử và đánh giá

Sau khi xây dựng hệ thống tổng hợp tiếng Việt, cần tiến hành kiểm thử và đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo hệ thống hoạt động đúng chức năng và đáp ứng các yêu cầu về hiệu suất và chất lượng. Các bài kiểm tra cần bao gồm đánh giá chất lượng âm thanh, độ chính xác của phiên âm, và hiệu suất tính toán. Việc thu thập phản hồi từ người dùng cũng rất quan trọng để cải thiện hệ thống.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu âm tiết. Trong tiếng Việt có 21 phụ âm. Phụ âm mang tính độc lập do không tham gia vào việc thay đổi về trường độ giữa các yếu tố bên trong âm tiết. Đặc điểm âm đầu  Khi phát âm, luồng hơi bị cản trở do sự xuất hiện chướng ngại vật trên lối ra của đường không khí.

Điểm có chướng ngại gọi là vị trí cấu âm.  Bộ máy phát âm không căng thẳng toàn bộ mà chỉ căng thẳng phần cơ thịt ở vị trí cấu âm.  Luồng hơi ra mạnh. Phân loại  Phân chia theo mối quan hệ giữa tiếng thanh và tiếng ồn trong cấu tạo của âm đầu Các phụ âm đầu được chia thành các phụ âm vang (tiếng thanh nhiều hơn tiếng ồn) và phụ âm ồn.

Trong các phụ âm ồn lại chia thành các phụ âm hữu thanh (phát âm có sự tham gia của tiếng thanh do dây thanh rung động) và phụ âm vô thanh (phát âm không có sự tham gia của tiếng thanh). Nhóm phụ âm vang có thể coi là nhóm trung gian giữa các nguyên âm và phụ âm ồn. Khi phát âm các phụ âm vang, chướng ngại được tạo thành nhưng có thể là chỗ tắc yếu hoặc không khí không những trực tiếp vượt qua chỗ có chướng ngại mà còn đi ra tự do qua mũi (như các phụ âm [m], [n] trong tiếng Việt). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 18 -  Phân chia theo phương thức cấu tạo tiếng ồn  Phụ âm tắc: tạo thành khi hai khí quản tiếp xúc nhau, tạo thành chỗ tắc, cản trở hoàn toàn lối ra của luồng không khí.

Ví dụ như các phụ âm [p], [b], [d], [t].  Phụ âm xát: tạo thành khi hai khí quản nhích lại gần nhau, làm cho lối ra của luồng không khí bị thu hẹp; luồng không khí đi qua khe hẹp này cọ xát vào thành của bộ máy phát âm. Ví dụ, các phụ âm [v], [s], [h].  Phụ âm rung: tạo thành khi các khí quản dễ rung động (như đầu lưỡi, lưỡi con hay môi) nhích lại gần nhau tạo thành một khe hở rất hẹp hay một chỗ tắc yếu, luồng không khí đi ra mạnh làm cho các khí quản ấy rung lên.

Ví dụ phụ âm [r]. Trong các cấu âm của phụ âm, người ta thường phân biệt ba giai đoạn:  Giai đoạn tiến: khí quản phát âm chuyển đến vị trí cấu âm  Giai đoạn giữ: khí quản phát âm ở vị trí cấu âm  Giai đoạn lùi: khí quản phát âm rời khỏi vị trí cấu âm Hai giai đoạn đầu giống nhau ở bất kỳ âm tắc nào. Về giai đoạn thứ ba, cần phân biệt các tiểu loại âm tắc: âm nổ, âm mũi, âm tắc-xát và âm khép  Phân chia theo vị trí tạo ra tiếng ồn Theo vị trí cấu tạo tiếng ồn, các phụ âm được chia ra thành các loại chính: phụ âm môi, răng, ngạc mạc, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu. Theo khí quản chủ động, các phụ âm được chia thành các loại: phụ âm môi, lưỡi trước, lưỡi giữa, lưỡi sau, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu.

Trong các nhóm này, có một số cần chia nhỏ nữa. Ví dụ trong các âm môi, người ta phân biệt các âm hai môi, thường gọi là âm môi- môi ([b], [p], [m]). Với các âm một môi, thường gọi là âm môi-răng ([v]); các âm lưỡi trước thường chia thành nhiều nhóm nhỏ nhưng đáng chú ý là âm đầu lưỡi và âm quặt lưỡi,. Âm đệm Đóng vai trò là âm lướt trong kết cấu âm tiết.

Âm đệm ảnh hưởng đến cách mở đầu của âm tiết (bên cạnh phụ âm đầu). Ví dụ: chữ ”toàn” khi phát âm có hiện tượng tròn môi do tác động của âm đệm/-u-/, còn chữ ”tàn” thì không có hiện tượng tròn môi do không có âm đệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Âm chính Là nguyên âm âm tiết tính trong âm tiết.

Âm tiết chính có thể là một nguyên âm đơn hay nguyên âm đôi. Âm chính gồm một hệ thống nguyên âm gồm 11 nguyên âm đơn /a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư, i/ và ba nguyên âm đôi /iê, ươ, ưa/. Âm chính là yếu tố tạo nên đỉnh âm thanh, có biên độ và cường độ lớn nhất trong các thành phần âm tiết. Đặc điểm  Khi phát âm, luồng hơi không bị cản trở bởi lưỡi, răng hay môi  Bộ máy phát âm căng thẳng toàn bộ  Luồng hơi ra yếu hơn phụ âm Phân loại Các nguyên âm không thể phân chia theo tiêu chuẩn như của phụ âm.

Về mặt phương thức cấu âm, nguyên âm chỉ thuộc vào một phương thức đó là luồng hơi ra tự do. Nguyên âm không có vị trí cấu âm vì các khí quản không tạo thành khe, cũng không tạo thành chỗ tắc. Các nguyên âm cũng không thể phân loại theo tiếng thanh, vì bình thường, bất kỳ nguyên âm nào cũng có tiếng thanh. Các nguyên âm chỉ khác nhau ở các hoạt động của khí quản phát âm, trong đó quan trọng nhất là lưỡi.

Vì sự thay đổi vị trí của lưỡi gây ra sự khác nhau rất lớn giữa các nguyên âm. Lưỡi chuyển động tới-lui và lên xuống trong khoang miệng và tạo nên những tương quan phức tạp giữa các khoang cộng minh (khoang miệng và mũi), làm thay đổi hình dáng và thể tích của chúng. Môi tròn lại và đưa về trước, làm kéo dài lối thoát của luồng không khí, hoặc môi chành ra, làm cộng minh trường phía trước ngắn lại. Người ta thường phân loại nguyên âm theo vị trí của lưỡi, độ nâng của lưỡi và hình dáng môi  Theo vị trí của lưỡi Gồm các nguyên âm dòng trước (khi lưỡi dồn về trước), nguyên âm dòng sau (khi lưỡi dồn về sau) và nguyên âm dòng giữa (khi lưỡi ở giữa miệng nâng lên).

Ví dụ, trong tiếng Việt, các nguyên âm dòng trước là [i], [e], [ê], nguyên âm dòng sau là [u], [o], [ô], nguyên âm dòng giữa là [ư], [ơ], [a].  Theo độ nâng của lưỡi Các nguyên âm được chia tùy theo từng ngôn ngữ. Độ nâng của lưỡi tương ứng với độ mở của miệng nên các nguyên âm có độ nâng cao còn gọi là nguyên âm hẹp, nguyên âm có độ nâng thấp còn gọi là nguyên âm mở. Trong ngữ âm học đại cương không có một cách phân loại tuyệt đối theo độ nâng lưỡi vì mỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 20 - ngôn ngữ có một hệ thống nguyên âm khác nhau.

Ví dụ, các nguyên âm dòng trước trong tiếng Pháp có 4 độ nâng, các nguyên âm trong tiếng Ðức có 5 độ nâng, tiếng Nga có 3 độ nâng, tiếng Anh có 6 độ nâng. Trong tiếng Việt, các nguyên âm đơn có thể chia thành 4 nâng: Bảng 1.1: Phân chia nguyên âm theo độ nâng của lưỡi. Ðộ nâng Gồm các nguyên âm Hẹp [i], [u], … Hơi hẹp [ê], [u], … Hơi rộng [o], [e], … Rộng [a], [a], …  Theo hình dáng môi Các nguyên âm được chia thành nguyên âm tròn môi ([u], [ô], [o]), nguyên âm không tròn môi ([i], [ê], [e], [ư], [ơ], [a]). Sự tròn môi rõ nhất ở nguyên âm khép và yếu nhất ở nguyên âm mở.

Âm cuối Là âm kết thúc âm tiết. Các âm tiết tiếng Việt thường đối lập bằng những cách kết thúc khác nhau. Một số âm tiết kết thúc bằng sự kéo dài và giữ nguyên, ví dụ: má, đi, cho,. Số âm tiết khác kết thúc bằng cách biến đổi âm sắc của âm tiết ở phần cuối do sự đóng lại của các âm cuối tham gia, ví dụ như một, mai, vàng,.

Trong trường hợp đầu, ta có các âm cuối là âm vị /zero/, trong trường hợp sau ta có các âm cuối là những âm vị bán nguyên âm hoặc phụ âm. Hệ thống âm cuối tiếng Việt bao gồm hai bán nguyên âm là /i, o/ và sáu phụ âm /m, n, ng (nh), p, t, c/. Thanh điệu Thanh điệu là loại âm vị siêu đoạn tính, nó được biểu lộ trong toàn bộ phần hữu thanh của âm tiết. Ở mức vật lý, phần thanh của thanh điệu chính là đường nét của tần số âm cơ bản F0.

Về cảm thụ, thanh điệu là sự cảm nhận về thay đổi của cao đọ tần số cơ bản F0 của âm tiết. Sáu thanh điệu tiếng Việt được chia thành hai nhóm lớn bằng và trắc. Thanh không dấu và thanh huyền thuộc loại thanh bằng có đường nét tương đối đơn giản. Thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng là những thanh trắc có đường nét thanh điệu phức tạp.

Các thanh ngang, sắc, ngã thuộc âm vực cao, còn các âm huyền, hỏi và nặng thuộc âm vực thấp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 21 - Trong các công trình nghiên cứu đã được công bố, đường nét thanh điệu tiếng Việt cho những âm tiết rời rạc (phương ngữ Bắc Bộ) được đánh giá tương đối thống nhất. Ngoài tính chất thanh tính, các thanh điệu còn có một số đặc trưng phi điệu tính như hiện tượng yết hầu hoá, thanh hầu hoá,… tạo thành hệ thống các đặc trưng phụ để phân biệt các thanh điệu đặc biệt của thanh ngã và sắc, thanh hỏi, thanh nặng. Phân loại âm tiết tiếng Việt Phụ thuộc vào cách thức kết thúc, âm tiết tiếng Việt được chia thành 4 loại như trong bảng 1.2: Phân loại âm tiết tiếng Việt.

STT Loại âm tiết Đặc điểm Ví dụ Là các loại âm tiết không có âm cuối, kết 1 Âm mở Ma, mẹ, … thúc âm tiết bằng nguyên âm chính âm cuối kết thúc âm tiết là một bán nguyên 2 Âm nửa mở Mai, sau,. âm 3 Âm đóng Khi âm cuối là một phụ âm tắc vô thanh Tập, học,. 4 Âm nửa đóng Khi âm cuối là một phụ âm mũi Làm, ngành,. Một số đặc trưng cơ bản của ngôn điệu tiếng Việt 1.

Tần số cơ bản F0 Dạng sóng của tiếng nói gồm hai phần: Phần gần giống nhiễu (trong đó biên độ biến đổi ngẫu nhiên) và phần có tính chu kỳ (trong đó tín hiệu lặp lại gần như tuần hoàn). Phần tín hiệu có tính chu kỳ chứa các thành phần tần số có dạng điều hòa. Tần số thấp nhất chính là tần số cơ bản và cũng chính là tần số dao động của dây thanh. Đối với những người nói khác nhau, tần số cơ bản cũng khác nhau.

Dưới đây là một số giá trị tần số cơ bản tương ứng với giới tính và tuổi: Giá trị tần số cơ bản Người nói 80 – 200 Hz Nam giới 150 – 450 Hz Phụ nữ 200 – 600 Hz Trẻ em TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Đường F0 trong câu tổng hợp ”chỉ biết mình là con riêng”. Trường độ Trường độ (duration) của âm vị là độ dài của đoạn sóng tiếng nói tương ứng với âm vị tính theo thời gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ