mở đầu âm tiết. Trong tiếng Việt có 21 phụ âm. Phụ âm mang tính độc lập do không tham gia vào việc thay đổi về trường độ giữa các yếu tố bên trong âm tiết. Đặc điểm âm đầu Khi phát âm, luồng hơi bị cản trở do sự xuất hiện chướng ngại vật trên lối ra của đường không khí.
Điểm có chướng ngại gọi là vị trí cấu âm. Bộ máy phát âm không căng thẳng toàn bộ mà chỉ căng thẳng phần cơ thịt ở vị trí cấu âm. Luồng hơi ra mạnh. Phân loại Phân chia theo mối quan hệ giữa tiếng thanh và tiếng ồn trong cấu tạo của âm đầu Các phụ âm đầu được chia thành các phụ âm vang (tiếng thanh nhiều hơn tiếng ồn) và phụ âm ồn.
Trong các phụ âm ồn lại chia thành các phụ âm hữu thanh (phát âm có sự tham gia của tiếng thanh do dây thanh rung động) và phụ âm vô thanh (phát âm không có sự tham gia của tiếng thanh). Nhóm phụ âm vang có thể coi là nhóm trung gian giữa các nguyên âm và phụ âm ồn. Khi phát âm các phụ âm vang, chướng ngại được tạo thành nhưng có thể là chỗ tắc yếu hoặc không khí không những trực tiếp vượt qua chỗ có chướng ngại mà còn đi ra tự do qua mũi (như các phụ âm [m], [n] trong tiếng Việt). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 18 - Phân chia theo phương thức cấu tạo tiếng ồn Phụ âm tắc: tạo thành khi hai khí quản tiếp xúc nhau, tạo thành chỗ tắc, cản trở hoàn toàn lối ra của luồng không khí.
Ví dụ như các phụ âm [p], [b], [d], [t]. Phụ âm xát: tạo thành khi hai khí quản nhích lại gần nhau, làm cho lối ra của luồng không khí bị thu hẹp; luồng không khí đi qua khe hẹp này cọ xát vào thành của bộ máy phát âm. Ví dụ, các phụ âm [v], [s], [h]. Phụ âm rung: tạo thành khi các khí quản dễ rung động (như đầu lưỡi, lưỡi con hay môi) nhích lại gần nhau tạo thành một khe hở rất hẹp hay một chỗ tắc yếu, luồng không khí đi ra mạnh làm cho các khí quản ấy rung lên.
Ví dụ phụ âm [r]. Trong các cấu âm của phụ âm, người ta thường phân biệt ba giai đoạn: Giai đoạn tiến: khí quản phát âm chuyển đến vị trí cấu âm Giai đoạn giữ: khí quản phát âm ở vị trí cấu âm Giai đoạn lùi: khí quản phát âm rời khỏi vị trí cấu âm Hai giai đoạn đầu giống nhau ở bất kỳ âm tắc nào. Về giai đoạn thứ ba, cần phân biệt các tiểu loại âm tắc: âm nổ, âm mũi, âm tắc-xát và âm khép Phân chia theo vị trí tạo ra tiếng ồn Theo vị trí cấu tạo tiếng ồn, các phụ âm được chia ra thành các loại chính: phụ âm môi, răng, ngạc mạc, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu. Theo khí quản chủ động, các phụ âm được chia thành các loại: phụ âm môi, lưỡi trước, lưỡi giữa, lưỡi sau, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu.
Trong các nhóm này, có một số cần chia nhỏ nữa. Ví dụ trong các âm môi, người ta phân biệt các âm hai môi, thường gọi là âm môi- môi ([b], [p], [m]). Với các âm một môi, thường gọi là âm môi-răng ([v]); các âm lưỡi trước thường chia thành nhiều nhóm nhỏ nhưng đáng chú ý là âm đầu lưỡi và âm quặt lưỡi,. Âm đệm Đóng vai trò là âm lướt trong kết cấu âm tiết.
Âm đệm ảnh hưởng đến cách mở đầu của âm tiết (bên cạnh phụ âm đầu). Ví dụ: chữ ”toàn” khi phát âm có hiện tượng tròn môi do tác động của âm đệm/-u-/, còn chữ ”tàn” thì không có hiện tượng tròn môi do không có âm đệm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Âm chính Là nguyên âm âm tiết tính trong âm tiết.
Âm tiết chính có thể là một nguyên âm đơn hay nguyên âm đôi. Âm chính gồm một hệ thống nguyên âm gồm 11 nguyên âm đơn /a, ă, â, e, ê, o, ô, ơ, u, ư, i/ và ba nguyên âm đôi /iê, ươ, ưa/. Âm chính là yếu tố tạo nên đỉnh âm thanh, có biên độ và cường độ lớn nhất trong các thành phần âm tiết. Đặc điểm Khi phát âm, luồng hơi không bị cản trở bởi lưỡi, răng hay môi Bộ máy phát âm căng thẳng toàn bộ Luồng hơi ra yếu hơn phụ âm Phân loại Các nguyên âm không thể phân chia theo tiêu chuẩn như của phụ âm.
Về mặt phương thức cấu âm, nguyên âm chỉ thuộc vào một phương thức đó là luồng hơi ra tự do. Nguyên âm không có vị trí cấu âm vì các khí quản không tạo thành khe, cũng không tạo thành chỗ tắc. Các nguyên âm cũng không thể phân loại theo tiếng thanh, vì bình thường, bất kỳ nguyên âm nào cũng có tiếng thanh. Các nguyên âm chỉ khác nhau ở các hoạt động của khí quản phát âm, trong đó quan trọng nhất là lưỡi.
Vì sự thay đổi vị trí của lưỡi gây ra sự khác nhau rất lớn giữa các nguyên âm. Lưỡi chuyển động tới-lui và lên xuống trong khoang miệng và tạo nên những tương quan phức tạp giữa các khoang cộng minh (khoang miệng và mũi), làm thay đổi hình dáng và thể tích của chúng. Môi tròn lại và đưa về trước, làm kéo dài lối thoát của luồng không khí, hoặc môi chành ra, làm cộng minh trường phía trước ngắn lại. Người ta thường phân loại nguyên âm theo vị trí của lưỡi, độ nâng của lưỡi và hình dáng môi Theo vị trí của lưỡi Gồm các nguyên âm dòng trước (khi lưỡi dồn về trước), nguyên âm dòng sau (khi lưỡi dồn về sau) và nguyên âm dòng giữa (khi lưỡi ở giữa miệng nâng lên).
Ví dụ, trong tiếng Việt, các nguyên âm dòng trước là [i], [e], [ê], nguyên âm dòng sau là [u], [o], [ô], nguyên âm dòng giữa là [ư], [ơ], [a]. Theo độ nâng của lưỡi Các nguyên âm được chia tùy theo từng ngôn ngữ. Độ nâng của lưỡi tương ứng với độ mở của miệng nên các nguyên âm có độ nâng cao còn gọi là nguyên âm hẹp, nguyên âm có độ nâng thấp còn gọi là nguyên âm mở. Trong ngữ âm học đại cương không có một cách phân loại tuyệt đối theo độ nâng lưỡi vì mỗi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 20 - ngôn ngữ có một hệ thống nguyên âm khác nhau.
Ví dụ, các nguyên âm dòng trước trong tiếng Pháp có 4 độ nâng, các nguyên âm trong tiếng Ðức có 5 độ nâng, tiếng Nga có 3 độ nâng, tiếng Anh có 6 độ nâng. Trong tiếng Việt, các nguyên âm đơn có thể chia thành 4 nâng: Bảng 1.1: Phân chia nguyên âm theo độ nâng của lưỡi. Ðộ nâng Gồm các nguyên âm Hẹp [i], [u], … Hơi hẹp [ê], [u], … Hơi rộng [o], [e], … Rộng [a], [a], … Theo hình dáng môi Các nguyên âm được chia thành nguyên âm tròn môi ([u], [ô], [o]), nguyên âm không tròn môi ([i], [ê], [e], [ư], [ơ], [a]). Sự tròn môi rõ nhất ở nguyên âm khép và yếu nhất ở nguyên âm mở.
Âm cuối Là âm kết thúc âm tiết. Các âm tiết tiếng Việt thường đối lập bằng những cách kết thúc khác nhau. Một số âm tiết kết thúc bằng sự kéo dài và giữ nguyên, ví dụ: má, đi, cho,. Số âm tiết khác kết thúc bằng cách biến đổi âm sắc của âm tiết ở phần cuối do sự đóng lại của các âm cuối tham gia, ví dụ như một, mai, vàng,.
Trong trường hợp đầu, ta có các âm cuối là âm vị /zero/, trong trường hợp sau ta có các âm cuối là những âm vị bán nguyên âm hoặc phụ âm. Hệ thống âm cuối tiếng Việt bao gồm hai bán nguyên âm là /i, o/ và sáu phụ âm /m, n, ng (nh), p, t, c/. Thanh điệu Thanh điệu là loại âm vị siêu đoạn tính, nó được biểu lộ trong toàn bộ phần hữu thanh của âm tiết. Ở mức vật lý, phần thanh của thanh điệu chính là đường nét của tần số âm cơ bản F0.
Về cảm thụ, thanh điệu là sự cảm nhận về thay đổi của cao đọ tần số cơ bản F0 của âm tiết. Sáu thanh điệu tiếng Việt được chia thành hai nhóm lớn bằng và trắc. Thanh không dấu và thanh huyền thuộc loại thanh bằng có đường nét tương đối đơn giản. Thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng là những thanh trắc có đường nét thanh điệu phức tạp.
Các thanh ngang, sắc, ngã thuộc âm vực cao, còn các âm huyền, hỏi và nặng thuộc âm vực thấp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 21 - Trong các công trình nghiên cứu đã được công bố, đường nét thanh điệu tiếng Việt cho những âm tiết rời rạc (phương ngữ Bắc Bộ) được đánh giá tương đối thống nhất. Ngoài tính chất thanh tính, các thanh điệu còn có một số đặc trưng phi điệu tính như hiện tượng yết hầu hoá, thanh hầu hoá,… tạo thành hệ thống các đặc trưng phụ để phân biệt các thanh điệu đặc biệt của thanh ngã và sắc, thanh hỏi, thanh nặng. Phân loại âm tiết tiếng Việt Phụ thuộc vào cách thức kết thúc, âm tiết tiếng Việt được chia thành 4 loại như trong bảng 1.2: Phân loại âm tiết tiếng Việt.
STT Loại âm tiết Đặc điểm Ví dụ Là các loại âm tiết không có âm cuối, kết 1 Âm mở Ma, mẹ, … thúc âm tiết bằng nguyên âm chính âm cuối kết thúc âm tiết là một bán nguyên 2 Âm nửa mở Mai, sau,. âm 3 Âm đóng Khi âm cuối là một phụ âm tắc vô thanh Tập, học,. 4 Âm nửa đóng Khi âm cuối là một phụ âm mũi Làm, ngành,. Một số đặc trưng cơ bản của ngôn điệu tiếng Việt 1.
Tần số cơ bản F0 Dạng sóng của tiếng nói gồm hai phần: Phần gần giống nhiễu (trong đó biên độ biến đổi ngẫu nhiên) và phần có tính chu kỳ (trong đó tín hiệu lặp lại gần như tuần hoàn). Phần tín hiệu có tính chu kỳ chứa các thành phần tần số có dạng điều hòa. Tần số thấp nhất chính là tần số cơ bản và cũng chính là tần số dao động của dây thanh. Đối với những người nói khác nhau, tần số cơ bản cũng khác nhau.
Dưới đây là một số giá trị tần số cơ bản tương ứng với giới tính và tuổi: Giá trị tần số cơ bản Người nói 80 – 200 Hz Nam giới 150 – 450 Hz Phụ nữ 200 – 600 Hz Trẻ em TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Đường F0 trong câu tổng hợp ”chỉ biết mình là con riêng”. Trường độ Trường độ (duration) của âm vị là độ dài của đoạn sóng tiếng nói tương ứng với âm vị tính theo thời gian.