Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 1. Khái niệm Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm * Tội phạm và các thuộc tính của tội phạm - Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự. - Trước khi có Bộ luật hình sự năm 2015, pháp luật hình sự Việt Nam không xác định TNHS của pháp nhân thương mại vì cho rằng pháp nhân thương mại không có lỗi, chủ thể của tội phạm chỉ có một loại duy nhất đó là cá nhân.
Việc Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung TNHS của pháp nhân thương mại đã đánh dấu một bước phát triển mang tính đột phá về tư duy và chính sách hình sự của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải xử lý các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế và bảo vệ môi trường. Mặc dù có rất nhiều loại pháp nhân khác nhau nhưng Bộ luật hình sự chỉ truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại. - Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. - Để xác định có tội phạm hay không thì phải căn cứ vào hành vi, đây là dấu hiệu đầu tiên để nhận biết tội phạm.
Tuy nhiên, hành vi này phải luôn gắn với một trong hai chủ thể đó là hành vi của cá nhân và hành vi của pháp nhân thương mại. 9 Luan van - Hành vi của cá nhân là những biểu hiện ra bên ngoài của một cá nhân đó dưới dạng hành động hoặc không hành động. - Hành vi của pháp nhân thương mại dựa trên hành vi của người đại diện pháp nhân thương mại, hay nói một cách khác đó là những biểu hiện ra bên ngoài của một hoặc nhiều các nhân đại diện cho pháp nhân thương mại. - Các hành vi của pháp nhân thương mại sẽ chỉ bị coi là tội phạm khi có đủ các điều kiện: + Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.
+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại + Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. + Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định. - Những gì mới chỉ trong suy nghĩ, tưởng tượng bên trong của một cá nhân mà không được bộc lộ ra bên ngoài bằng một hành vi thì chưa thể có tội phạm do cá nhân thực hiện hay pháp nhân thương mại thực hiện. - Nếu như hành vi là yếu tố bên ngoài giúp nhận biết tội phạm thì khi tội phạm xảy ra, hành vi không bao giờ tồn tại độc lập mà luôn gắn bó mật thiết với thái độ lỗi bên trong của chủ thể thực hiện hành vi đó.
+ Khi tội phạm do cá nhân thực hiện thì hành vi của cá nhân luôn gắn bó mật thiết với thái độ lỗi bên trong của cá nhân đó. + Khi tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện thì thái độ lỗi của pháp nhân thương mại chính là thái độ lỗi bên trong của người đứng đầu hoặc người đại diện của pháp nhân thương mại đó và luôn gắn bó, biển hiện ra bên ngoài cùng với hành vi của người này. - Khi đã là tội phạm thì bao giờ cũng có bốn thuộc tính đó là: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong đó: + Tính nguy hiểm cho xã hội: Là thuộc tính cho thấy hành vi do cá nhân hoặc pháp nhân thương mại thực hiện không phù hợp với chuẩn mực hoặc đạo đức 10 Luan van xã hội.
Chính sự không phù hợp này đã đe dọa hoặc gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ như độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sự nguy hiểm cho xã hội ở đây phải là nguy hiểm đáng kể còn hành vi mà tính nguy hiểm không đáng kể thì chỉ coi là vi phạm. Để xác định thế nào được coi là nguy hiểm đáng kể, thì có trường hợp ngay chính điều luật đã được mô tả rõ, có tiêu chí cụ thể, có định lượng; nhưng cũng có những trường hợp chỉ mang tính định tính, phải căn cứ vào tổng thể các tình tiết của hành vi để nhận định. Thuộc tính này là một trong số những cơ sở để phân biệt giữa hành vi phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức bị coi là tội phạm (phân biệt giữa tội phạm và vi phạm) và có ý nghĩa giúp phân hóa trách nhiệm pháp lý khi áp dụng.
+ Tính có lỗi: Là một thuộc tính bắt buộc của tội phạm, lỗi đó chính là thể hiện sự sai trái khi thực hiện hành vi được thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý, là yếu tố bắt buộc để xác định tội phạm của cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Lỗi thuộc về yếu tố chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội hoặc thuộc về yếu tố chủ quan của người đại diện cho pháp nhân thương mại phạm tội. Do vậy, khi xác định nguyên tắc lỗi để truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ là cơ sở để giáo dục cải tạo đối với chính những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm; người đại diện, người đứng đầu pháp nhân thương mại hoặc những người khác. + Tính trái pháp luật hình sự: Là việc xử lý tội phạm luôn bắt buộc phải có một điều luật mô tả hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể bị coi là tội phạm.
Khi một hành vi bị coi là tội phạm thì việc áp dụng chế tài để xử phạt đối với hành vi đó chỉ có thể là các hình phạt được mô tả trong chính điều luật cụ thể của BLHS. Thuộc tính này đòi hỏi các Cơ quan tiến hành tố tụng không được phép áp dụng nguyên tắc “pháp luật tương tự” để xác định một người hay pháp nhân thương mại là có tội hay không có tội mà phải được xác định bằng một điều luật cụ thể được quy định trong 11 Luan van BLHS. Tính được quy định trong BLHS còn thể hiện một hành vi được thực hiện bị coi là tội phạm trước khi BLHS được ban hành và có hiệu lực thi hành thì cá nhân, pháp nhân thương mại nếu có thực hiện hành vi đó thì cũng không phải chịu TNHS, các chủ thể này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ phạm vào một điều của bộ luật hình sự do họ thực hiện hành vi bị coi là tội phạm kể từ khi bộ luật đó được ban hành và có hiệu lực pháp luật. Nói cách khác không áp dụng hồi tố đối với hành vi bị coi là tội phạm.
+ Tính phải chịu trách nhiệm hình sự: Là thuộc tính thể hiện một hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi phạm tội bị coi là tội phạm phải gánh chịu từ hành vi mà họ đã thực hiện. Nói cách khác, bởi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên nó phải luôn chịu sự đe dọa bị áp dụng một trong số các loại hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự. Mặc dù không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm nhưng đây là hệ quả tất yếu kéo theo khi chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và không phải chịu hình phạt nếu không thực hiện hành vi bị coi là phạm tội. Tính phải chịu tránh nhiệm hình sự còn thể hiện một hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự nữa nếu đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Có những trường hợp nhất định khi có trách nhiệm hình sự thì cá nhân hoặc pháp nhân thương mại luôn phải bị đe dọa, bị áp dụng một hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế có thể họ không bị áp dụng bởi họ được miễn trách nhiệm này. Trong Bộ luật hình sự, các điều luật cụ thể luôn có những hình phạt cụ thể đi kèm, đây cũng là một trong những cơ sở để phân hóa tách nhiệm hình sự. Trong bốn loại trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật Nhà nước và trách nhiệm dân sự), thì trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất.
Nếu hiểu theo một nghĩa rộng về hậu quả pháp lý bất lợi mà cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu do thực hiện hành vi phạm tội thì đó là nghĩa vụ phải gánh chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự (các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế theo Bộ luật tố tụng hình sự), chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp, 12 Luan van các biện pháp giám sát, giáo dục) và mang án tích. Theo cách hiểu này, trách nhiệm hình sự phát sinh từ thời điểm cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Từ thời điểm này; cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ phải gánh chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và mang án tích.