Chương 1: Một số vấn đề chung về tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Chương 2: Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP HÀNG HÓA, TIỀN TỆ QUA BIÊN GIỚI 1. Một số vấn đề chung về tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới 1.
Khái niệm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới Hàng hóa và tiền tệ có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở các góc độ khác nhau trong đời sống xã hội, nhưng theo nghĩa chung nhất, có thể quan niệm: (i) hàng hóa là sản phẩm của lao động, thể hiện sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng thông qua trao đổi mua-bán nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; (ii) tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhất, là thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện cất giữ, phương tiện thanh toán trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia. Thực tế cho thấy hàng hóa, tiền tệ có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức, được lưu thông và sử dụng vì những nhu cầu khác nhau trong đời sống xã hội, bởi vậy, tùy thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa- xã hội của mỗi quốc gia thì chính sách, pháp luật về quản lý hàng hóa, tiền tệ cũng có sự khác biệt. Ở nước ta, việc quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, đối với hàng hóa, tiền tệ nói riêng được thực hiện trên cơ sở pháp luật và điều kiện thực tế của đất nước ở từng thời kỳ nhất định, nhằm đảm bảo việc lưu thông, mua bán hàng hóa, tiền tệ đảm bảo trật tự quản lý kinh tế. Về nguyên tắc, để đảm bảo quản lý nhà nước, pháp luật quy định cụ thể việc lưu thông, sử dụng hàng hóa, tiền tệ.
Bởi vậy, việc lưu thông, buôn bán hàng hóa, tiền tệ trái với quy định pháp luật thì bị coi là hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. 6 Vận chuyển hàng hóa, tiền tệ, theo nghĩa chung nhất là hành vi đưa hàng hóa, tiền tệ từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào. Thực tế cho thấy rằng, việc vận chuyển hàng hóa, tiền tệ có thể thực hiện thông qua các phương thức khác nhau như: mang theo người, vận chuyển qua các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường biển, đường sắt, đường hàng không hoặc qua đường bưu điện. Từ đó, việc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới có thể được thể hiện qua những hành vi như: hành vi vận chuyển nhưng không có giấy phép, không đúng nội dung giấy phép, không khai báo với cơ quan chức năng tại khu vực biên giới, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng (không làm thủ tục hải quan theo quy định pháp luật, khai báo gian dối số lượng, chủng loại hàng hóa hoặc không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp; hàng hóa nhập khẩu nhưng không có tem dán vào hàng hóa theo quy định hoặc có tem dán nhưng là tem giả, tem đã qua sử dụng v.
Việc vận chuyển trái phép…nếu có mục đích buôn bán thì được coi là tội buôn lậu. Theo quy định tại Điều 189 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Người nào hoặc pháp nhân nào vận chuyển trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại các loại hàng hóa, tiền tệ có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên bị coi là tội phạm hoặc dưới 100 triệu đồng mà đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án về tội phạm này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 188, 190. chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc đối tượng hàng hóa là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cũng được coi là tội phạm. Lịch sử lập pháp về tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
Hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ảnh hưởng đến an ninh biên giới và chủ quyền Quốc gia nên được nhà nước quản lý chặt chẽ. Vì 7 vậy, việc quy định hành vi vận chuyển hàng hóa, tiền tệ trái pháp luật là tội phạm tùy thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn nhất định. Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của việc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới đối với trật tự quản lý kinh tế về xuất khẩu, nhập khẩu và tiền tệ nên Nhà nước ta luôn có chính sách xử lý tương đối nghiêm khắc đối với tội phạm này. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Trong giai đoạn này, Nhà nước ta đã quan tâm ban hành nhiều văn bản pháp luật để đấu tranh, phòng chống tội phạm, trong đó có các hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
Cụ thể như một số văn bản quy phạm pháp luật sau đây: - Sắc lệnh số 50/SL ngày 09/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo sắc lệnh này quy định thì Nhà nước cấm hẳn việc xuất cảnh ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc. Vì vậy, có thể hiểu rằng việc vận chuyển "thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc” qua biên giới là trái pháp luật và người có hành vi vi phạm sẽ bị phạt theo quân luật và tài sản sẽ bị tịch thu. Từ đó, Sắc lệnh này có thể coi là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới - Sắc lệnh số 160/SL ngày 21/8/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Cũng tương tự Sắc lệnh số 50/SL nêu trên, Sắc lệnh này cũng cấm hẳn việc xuất cảng ra ngoại quốc các máy móc, các đồ vật bằng kim khí, xe hơi và các đồ phụ tùng về xe hơi. Vì vậy, máy móc, các đồ vật bằng kim khí, xe hơi và các đồ phụ tùng về xe hơi đã được bổ sung danh mục hàng cấm xuất cảng và người nào người nào có hành vi vận chuyển trái phép các hàng hóa này thì bị phạt theo luật lệ thuế quan hiện hành. 8 - Sắc lệnh số 202/SL ngày 15/10/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định việc buôn bán vàng bạc. Theo Sắc lệnh này thì Nhà nước "cấm hẳn việc xuất cảng bạc nén, bạc thoi, bạc vụn, tiền tệ bằng bạc, đồ bạc, nếu không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép” (Điều 6).
Điều này cũng có nghĩa là người nào có vận chuyển bạc nén, bạc thoi, bạc vụn, tiền tệ bằng bạc, đồ bạc qua biên giới mà không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép thì bị coi là hành vi trái pháp luật hình sự và bị “phạt tiền gấp ba số bạc gian lậu hay định gian lậu và phạt tù từ sáu ngày đến sáu tháng, hoặc sẽ phải chịu một trong hai thứ hình phạt ấy” (Điều 8). - Pháp lệnh số PL/1982 ngày 30/6/1982 của Hội đồng Nhà nước về trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Pháp lệnh này chưa quy định hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là tội phạm một trong điều luật riêng mà được quy định chung: "Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới”, theo đó: Người nào vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm pháp. Nếu vận chuyển hàng hoá thuộc loại cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng quy định ở khoản 1, Điều 9 Pháp lệnh này (Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm; Lợi dụng thiên tai hoặc chiến tranh để phạm tội; Phạm tội có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước hay tổ chức xã hội để phạm tội; Có hành động chống lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ) thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm, bị phạt tiền từ ba lần đến năm lần trị giá hàng phạm pháp, và có thể bị tịch thu một phần tài sản.
Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2, Điều 9 Pháp lệnh này (Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân hoặc sức khoẻ, tính mạng của người khác; Phạm tội gây hậu quả 9 nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng; Phạm tội tập trung nhiều tình tiết nghiêm trọng) thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân, bị phạt tiền từ năm lần đến mười lần trị giá hàng phạm pháp và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. - Nghị quyết số 68/HĐBT ngày 25/4/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống buôn lậu, chuyển trái phép tiền và hàng qua biên giới, theo đó nghị quyết đã đề ra những biện pháp cấp bách để nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, chuyển trái phép tiền và hàng qua biên giới… Trên cơ sở khái quát nêu trên, có thể thấy rằng trong giai đoạn này, ngay từ khi giành độc lập, Nhà nước ta đã có chính sách hình sự kiên quyết đấu tranh với các tội phạm về vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới. Trong giai đoạn này, mặc dù khái niệm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới chưa được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật nhưng các hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới đều bị xử lý bằng biện pháp hành chính hay hình sự của Nhà nước. Các quy định về các hành vi phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ở giai đoạn này là chuyển trái phép tiền và hàng qua biên giới; xuất cảng (xuất khẩu) hàng hóa, tiền tệ trái với quy định của nhà nước và hàng hóa, tiền tệ chủ yếu là một số loại thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu cho tiêu dùng; vàng bạc, các kim loại quý, đá quý, ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các loại hàng khác mà Nhà nước cấm buôn bán, tàng trữ .