Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TIỆN VÀ DỤNG CỤ TIỆN 1. TỔNG QUAN VỀ TIỆN 1. Khái niệm về gia công tiện Theo [1], Tiện là phương pháp gia công cắt gọt được thực hiện nhờ chuyển động chính thông thường do phôi quay tròn tạo thành chuyển động cắt Vc kết hợp với chuyển động tiến dao là tổng hợp của hai chuyển động tiến dao dọc Sd và tiến dao ngang Sng do dao thực hiện. Khi tiện trục trơn chuyển động tiến dao ngang Sng = 0, chuyển độc tiến dao dọc Sd ≠ 0.
Khi tiện mặt đầu hoặc cắt đứt, chuyển động tiến dao dọc Sd = 0, chuyển động tiến dao ngang Sng ≠ 0. Các dạng gia công tiện 1. Các chuyển động cắt gọt khi tiện Theo [1], Tuỳ thuộc vào phương pháp gia công, tuỳ thuộc vào yêu cầu tạo hình bề mặt, hệ thống công nghệ cần tạo ra những chuyển động tương đối nhằm hình thành nên bề mặt cần gia công. Những chuyển động tương đối nhằm hình thành bề mặt gia công gọi là chuyển động cắt gọt.
Những chuyển động cắt gọt khi tiện được phân làm hai loại chuyển động: - Chuyển động chính: Chuyển động quay của trục chính. - Các chuyển động phụ: Chuyển động chạy dao. Các chuyển động khi gia công tiện 1. Chuyển động chính và tốc độ cắt v Theo [1], Chuyển động chính là chuyển động tạo ra phoi và tiêu hao năng lượng cắt lớn nhất.
Chuyển động chính khi tiện là chuyển động quay tròn do chi tiết thực hiện. Để đặc trưng cho chuyển động chính, ta sử dụng hai đại lượng: - Số vòng quay n trong đơn vị thời gian. Số đo là vg/ph. Theo hệ ISO ký hiệu là S (Speed).
- Tốc độ chuyển động chính hay gọi là vận tốc cắt (tốc độ cắt) ký hiệu là v. Đơn vị là m/ph. Tốc độ cắt v là lượng dịch chuyển tương đối giữa dao và chi tiết theo G phương vận tốc cắt v ứng với một đơn vị thời gian (ph). Nếu chuyển động chính là chuyển động quay tròn, thì giữa vận tốc cắt (v), số vòng quay n (vg/ph) và đường kính chi tiết D (mm) có quan hệ sau: S Dn v (m/ph) (1.
Các chuyển động phụ Theo [1], Chuyển động phụ là những chuyển động tiếp tục tạo phoi. Như ta đã biết: lớp lượng dư là một khối không gian, do vậy để tách hết lớp không gian đó thì số chuyển động tối thiểu phải được thực hiện theo ba phương của hệ trục toạ độ không gian vuông góc. Như vậy ngoài chuyển động chính cần phải có hai chuyển động nữa vuông góc với nhau và vuông góc với phương chuyển động chính. Hai chuyển động này trong cắt gọt kim loại là chuyển động chạy dao và chuyển động theo phương chiều sâu cắt.
Chuyển động chạy dao và lượng chạy dao s Chuyển động chạy dao là một chuyển động phụ nhằm cắt hết lượt trên bề G mặt chi tiết. Phương chuyển động chạy dao được ký hiệu là s. Để đặc trưng cho chuyển động chạy dao, thường dùng các đại lượng: - Lượng chạy dao, ký hiệu là s, là lượng dịch chuyển tương đối giữa dao và chi tiết theo phương chạy dao tương ứng với 1 vòng quay của chuyển động chính. Đơn vị đo là mm/vòng.
- Tốc độ chạy dao, ký hiệu là vs, là lượng dịch chuyển tương đối giữa dao và chi tiết theo phương chạy dao ứng với một đơn vị thời gian. Đơn vị tính là mm/ph. Theo ISO ký hiệu là F. Với những định nghĩa trên ra có mối quan hệ giữa vs, s như sau: vs s.
Chuyển động theo phương chiều sâu cắt và chiều sâu cắt t Chuyển động theo phương chiều sâu cắt là một chuyển động phụ nhằm cắt hết chiều dày lớp lượng dư gia công cơ. Chuyển động chiều sâu cắt là chuyển động gián đoạn được thực hiện sau mỗi lần chạy dao. Đại lượng do chuyển động chiều sâu cắt là chiều sâu cắt t, là lượng dịch chuyển tương đối giữa dao và chi tiết theo phương chiều sâu cắt ứng với mỗi lần chạy dao. Đơn vị tính là mm.
Trong cắt gọt kim loại người ta gọi các đại lượng đặc trưng của chuyển động chính và các chuyển động phụ (v, s, t) là chế độ cắt khi gia công cơ. Lớp cắt và tiết diện lớp cắt Theo [1], Lớp kim loại bị hớt bỏ đi ứng với một vòng quay hay một hành trình kép của chuyển động chính gọi là lớp cắt. Nếu cắt lớp cắt bằng một mặt phẳng chứa lưỡi cắt và vuông góc với vectơ G vận tốc cắt v ta sẽ nhận được những tiết diện lớp cắt. Các loại tiết diện lớp cắt khi tiện 12 Tiết diện lớp cắt có ý nghĩa quan trọng trong công tác nghiên cứu cắt gọt kim loại.3 ta dễ dàng nhận thấy độ lớn của tiết diện lớp cắt (diện tích) được đặc trưng bởi hai cặp kích thước: a, b và s, t.
Trong đó: - a là chiều dày lớp cắt là một kích thước của tiết diện lớp cắt được đo theo phương vuông góc với lưỡi cắt chính - tính bằng mm. - b là chiều rộng lớp cắt là một kích thước khác của tiết diện lớp cắt, b chính là chiều dài cắt thực tế của lưỡi cắt - tính bằng mm. - s và t là hai thông số của các chuyển động phụ. Cũng từ hình 1.3 rõ ràng là: Trong trường hợp cắt a thì a # s, t # b và giữa chúng có mối quan hệ sau: a = s.sinM, b = t/sinM Trường hợp b.
Đặc biệt trong trường hợp c. thì chiều dày cắt a thay đổi trên suốt chiều dài làm việc thực tế của lưỡi cắt. Để đặc trưng chiều dày cắt, người ta dùng khái niệm chiều dày cắt trung bình - ký hiệu là atb. Ta gọi q là diện tích tiết diện lớp cắt - đơn vị tính là mm2, thì theo hình 1.3, một cách tổng quát ta có thể viết: q s.4) b Cần nhấn mạnh là: độ lớn của tiết diện lớp cắt được đặc trưng bằng hai cặp thông số s,t và a,b.
Trong đó chiều rộng cắt b là chiều dài thực tế của lưỡi cắt, và chiều dày cắt a là chiều dày lớp kim loại cần tách trong một lần chạy dao. Đây là hai thông số mà độ lớn của nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cắt gọt. Vì vậy trong nghiên cứu cắt gọt, người ta dùng hai thông số này để giải thích nhiều hiện tượng cơ-lý phức tạp xảy ra khi cắt kim loại. Cũng chính vì vậy mà hai thông số chiều dày cắt và chiều rộng cắt có ý nghĩa vật lý quan trọng trong công tác nghiên cứu.
Tuy vậy a và b là hai thông số không thể nhận được bằng cách điều chỉnh máy, mà băng điều chỉnh máy thì chỉ có thể nhận được chiều sâu cắt t và lượng chạy dao s. 13 Xuất phát từ yêu cầu lý thuyết giải thích bản chất quá trình cắt gọt xà xuất phát từ yêu cầu điều chỉnh sử dụng thực tế mà người ta phải đồng thời sử dụng hai cặp thông số đặc trưng cho tiết diện lớp cắt. KẾT CẤU HÌNH HỌC DAO TIỆN ĐƠN 1. Công dụng, phân loại Theo [6], Dao tiện đơn được dùng phổ biến trong quá trình gia công cắt gọt trên máy tiện vạn năng, máy tiện tự động.
Dụng cụ cắt đơn có nhiều dạng và kết cấu khác nhau tuỳ thuộc theo công dụng của chúng và đã được tiêu chuẩn hoá, thường được chia thành các loại sau: - Theo các dạng gia công: Dao tiện ngoại, dao xén mặt đầu, dao cắt đứt, dao tiện lỗ, dao tiện ren,… - Theo cách gá dao: Dao hướng kính, dao tiếp tuyến. - Theo tính chất gia công: Dao cắt thô, dao cắt tinh,… - Theo kết cấu thân dao: Thân dao hình chữ nhật, thân dao hình vuông, hình tròn,. - Theo kết cấu dao: Dao đầu thăng, dao đầu cong. - Theo hướng chạy dao: Dao phải, dao trái,… - Theo loại vật liệu dụng cụ: Dao thép gió, dao hợp kim cứng,… - Theo phương pháp chế tạo dao: Dao đầu liền, dao hàn mảnh dao, dao kẹp mảnh dao,… 1.
Kết cấu hình học dao tiện đơn Theo [6], Dao tiện đơn được cấu tạo bởi ba phần: phần làm việc còn gọi là phần cắt, phần gá đặt dao và phần cán dao (hình 1. Phần làm việc của dao (phần cắt) là phần của dao trực tiếp tiếp xúc với chi tiết gia công để làm nhiệm vụ tách phoi, đồng thời còn là phần dự trữ mài dao lại khi dao đã bị mòn. Phần gá đặt dao là một bộ phận của dao dùng để gá đặt dao lên máy nhằm bảo đảm vị trí tương quan giữa dao và chi tiết. Phần thân dao cũng là một phần trên dao nối liền giữa phần cắt và phần gá đặt dao.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ cắt gọt, về mặt kết cấu thì phần cắt của dao được tạo bởi các bề mặt và lưỡi cắt thích hợp, bao gồm: 14 Hình 1. Kết cấu hình học của dao tiện đơn (1) Mặt trước dao là mặt của dao để phoi trượt lên đó thoát ra khỏi vùng cắt trong quá trình gia công. (2) Mặt sau chính là mặt của dao đối diện với bề mặt đang gia công trên chi tiết. Vị trí tương quan của mặt này với mặt đang gia công của chi tiết quyết định mức độ ma sát giữa mặt sau chính dao và mặt đang gia công trên chi tiết.
(3) Mặt sau phụ là mặt trên phần cắt dao đối diện với bề mặt đã gia công trên chi tiết. ý nghĩa của nó tương tự như mặt sau chính. (4) Lưỡi cắt chính là giao tuyến giữa mặt trước và mặt sau chính. Trong quá trình cắt phần lớn lưỡi cắt chính tham gia cắt gọt.
Phần trực tiếp tham gia cắt gọt của lưỡi cắt chính gọi là chiều dài cắt thực tế của lưỡi cắt - đó chính là chiều rộng cắt b. (5) Lưỡi cắt phụ là giao tuyến giữa mặt trước và mặt sau phụ. Khi cắt có một phần lưỡi cắt phụ cũng tham gia cắt. (6) Mũi dao là giao điểm của lưỡi cắt chính và lưỡi cắt phụ.
Mũi dao là vị trí của dao dùng để điều chỉnh vị trí tương quan giữa dao và chi tiết. (7) Lưỡi cắt chuyển tiếp: Trong một số trường hợp (như dao phay một đầu) người ta cần tạo nên lưỡi chuyển tiếp giữa lưỡi cắt chính và lưỡi cắt phụ. Thông số hình học dao tiện đơn Theo [6], Các thông số hình học của dao nhằm xác định vị trí của mặt trước, mặt sau chính, mặt sau phụ và lưỡi cắt chính, lưỡi cắt phụ của đầu dao. Những thông số hình học này được xác định ở tiết diện chính N - N, ở mặt đáy, ở tiết diện phụ N1-N1 và trên mặt cắt.