Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC LƯU TRỮ 1. Cơ sở lý luận về tổ chức công tác lưu trữ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm tổ chức Tổ chức là sự “sắp xếp các bộ phận cho phối hợp với nhau để toàn bộ trở thành một cơ cấu nhất định”; nói cách khác “Tổ chức là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất”.
[51] Tổ chức là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của cơ quan. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Tổ chức là “hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì mục tiêu chung”. Khái niệm công tác lưu trữ Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của nhà nước bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. [59] Công tác lưu trữ ra đời do đòi hỏi khách quan của việc quản lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu để phục vụ xã hội.
Vì vậy, công tác lưu trữ được tổ chức ở tất cả các quốc gia trên thế giới và là một trong những hoạt động được các nhà nước quan tâm. Công tác lưu trữ bao gồm những vấn đề cơ bản sau: nghiên cứu, triển khai và thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước về lưu trữ; thực hiện các nghiệp vụ về lưu trữ; nghiên cứu khoa học về lưu trữ. Khái niệm tài liệu lưu trữ Tài liệu lưu trữ là kết quả hoạt động của một pháp nhân cụ thể, có nguồn gốc là tài liệu văn thư, nhưng không phải tất cả tài liệu văn thư nào đều trở thành tài liệu lưu trữ, mà chỉ gồm những tài liệu có ý nghĩa chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, lịch sử. Hiện nay, những tài liệu được lựa chọn để lưu trữ được coi là di sản của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc Nam xã hội chủ nghĩa.
Theo Từ điển lưu trữ Việt Nam (1992), tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, văn hóa, khoa học, lịch sử,. của toàn xã hội. Điều 2, khoản 3 Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 quy định “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp”.
Có thể rất nhiều định nghĩa về tài liệu lưu trữ, theo tác giả thống nhất sử dụng khái niệm: “Tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và được bảo quản trong kho lưu trữ để khai thác phục vụ”. Khái niệm tổ chức công tác lưu trữ Tổ chức công tác lưu trữ là toàn bộ công việc liên quan đến tổ chức quản lý nhằm giữ gìn an toàn tài liệu Phông lưu trữ và phục vụ nghiên cứu, sử dụng tài liệu có hiệu quả. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, NXB từ điển bách khoa, năm 2011-tr1228: “Sắp xếp, bố trí cho thành 1 chỉnh thể, có 1 cấu tạo, 1 cấu trúc và những chức năng chung nhất định, có trật tự, có nền nếp; Làm những gì cần thiết để tiến hành 1 hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất. Luan van 9 Tổ chức công tác lưu trữ là tập hợp các biện pháp nhằm tổ chức khoa học, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng hiệu quả tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp.
Tổ chức công tác lưu trữ 1. Nguyên tắc tổ chức công tác lưu trữ Khi xây dựng tổ chức tài liệu lưu trữ ở trường cao đẳng phải đảm bảo được nguyên tắc quản lý tập trung thống nhất. Tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ phải đáp ứng nguyên tắc sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho hoạt động lưu trữ đó là nguồn lực về con người, nguồn lực về cơ sở vật chất. Tổ chức công tác lưu trữ ở trường cao đẳng phải đáp ứng nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tài liệu lưu trữ.
Nội dung của tổ chức công tác lưu trữ a) Tổ chức bộ phận quản lý công tác lưu trữ Bộ phận quản lý công tác lưu trữ là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của một cơ quan. Bộ phận quản lý công tác lưu trữ có chức năng giúp lãnh đạo quản lý công tác lưu trữ trong cơ quan bằng việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như: Xây dựng những văn bản quy định về công tác lưu trữ trong cơ quan; quản lý và thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ đối với tài liệu lưu trữ của cơ quan; đề xuất các phương án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lưu trữ cho cơ quan và hàng năm báo cáo tình hình thực hiện công tác lưu trữ trong cơ quan, lập kế hoạch thực hiện công tác lưu trữ của cơ quan trong thời gian tới. Tại cơ quan trường cao đẳng: tổ chức bộ phận quản lý công tác lưu trữ cơ quan được đặt trong phòng Tổ chức – Hành chính được thể hiện theo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị, quy chế công tác văn thư, lưu trữ cơ quan. b) Tổ chức tuyển dụng và bố trí nhân sự làm công tác lưu trữ Cán bộ là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong công tác văn thư, lưu trữ ở các cơ quan.
Trình độ của cán bộ lưu trữ có tác động trực tiếp đến phương pháp, cách thức tổ chức khoa học tài liệu trong kho lưu trữ cơ quan. Cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ tìm ra phương pháp phân loại và sắp xếp tài liệu của Luan van 10 cơ quan một cách khoa học hợp lý, dễ tra tìm. Ngược lại trình độ cán bộ chuyên môn thấp sẽ ảnh hưởng không tốt đến cách phân loại và sắp xếp tài liệu của cơ quan ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác khai thác và sử dụng tài liệu. Chính vì vậy, việc tuyển dụng và bố trí cán bộ làm công tác lưu trữ ở cơ quan là một việc làm cần thiết cần được sự quan tâm trực tiếp sát sao của lãnh đạo văn phòng và lãnh đạo cơ quan.
Theo Thông tư số 13/2014/TT-BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành lưu trữ, được áp dụng đối với viên chức chuyên ngành lưu trữ làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Điều 3 Thông tư quy định cụ thể về hạng chức danh nghề nghiệp và tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của viên chức chuyên ngành lưu trữ. c) Xây dựng kho tàng trang thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa của dân tộc cần phải được bảo quản an toàn, tránh hư hỏng, mất mát. Thông tư số 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn kho lưu trữ chuyên dụng, hướng dẫn yêu cầu các thông số kỹ thuật về kho lưu trữ chuyên dụng.
Tại các lưu trữ cơ quan, việc xây dựng kho tàng, mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo quản tài liệu phụ thuộc vào sự quan tâm của lãnh đạo cơ quan và cán bộ quản lý văn phòng đối với công tác lưu trữ. Tuy nhiên, mặc dù hầu hết các lưu trữ hiện hành đều chưa xây dựng được kho lưu trữ chuyên dụng nhưng cũng đã có đầy đủ các trang thiết bị như; giá, tủ, hộp, cặp, hệ thống điều hoà nhiệu độ… đảm bảo ở mức tương đối yêu cầu bảo quản tài liệu ở giai đoạn hiện hành. d) Ban hành văn bản quy định và hướng dẫn về công tác lưu trữ Một trong những yếu tố làm căn cứ pháp lý cho việc thực hiện nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất về công tác lưu trữ trong toàn quốc là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của ngành lưu trữ. Hiện nay, nhà nước ta đã xây dựng và ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ về công tác lưu trữ, cụ thể như: Luan van 11 Trước khi có Luật Lưu trữ thì văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ngành lưu trữ là Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia số 34/2001/PL-UBTVQH ngày 04/4/2001 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Năm 2011, Quốc hội ban hành Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13; đây là bộ Luật cho ngành lưu trữ Việt Nam được thể hiện đầy đủ các Điều, khoản thực hiện các nghiệp vụ công tác lưu trữ. Một số các văn bản như Thông tư, hướng dẫn của Bộ Nội vụ cũng được ban hành để hướng dẫn thực hiện cho hoạt động lưu trữ được thống nhất, hiệu quả. Tại các cơ quan, tổ chức ngoài việc tuân theo những quy định của những văn bản trên cần phải thực hiện những quy định cụ thể của cơ quan ban hành. Những cơ quan được lãnh đạo quan tâm sát sao đến công tác lưu trữ thường ban hành những quy chế, quy định một số điều cụ thể về quản lý công tác lưu trữ, việc thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ và trách nhiệm của các cán bộ, công chức, viên chức cơ quan đối với công tác lưu trữ.
e) Kiểm tra, đánh giá hoạt động công tác lưu trữ Thanh tra, kiểm tra là khâu quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mỗi cơ quan. Thanh tra, kiểm tra có mục đích, ý nghĩa như: - Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của văn bản nhà nước trong thực tế xem có chính xác không, cần chỉnh sửa, bổ sung gì không.