CHƯƠNG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về mô hình dạy học 5E Việc vận dụng MHDH SE trong day học khoa học đã được quan tâm và nghiên cứu không chi ở thé giới nói chung mà còn ở Việt Nam nói riêng. Trên thẻ giới: - Tại Mỹ, MHDH 5E khá phỏ biến trong các chương trình dạy học khoa học, kẻ cả chính khoá và ngoại khoá.
Dựa trên những phân tích định tính của chương trình TAPESTRIES (Toledo Area Partners in Education - Support Teachers as Resources for Improving Elementary Science) và đánh giá tông kết của dự án ASTER (Active Science Teaching Encourages Reform), các tạp chí tham gia đã đưa ra một chủ đề nôi bật - MHDH 5E là một mô hình day học hiệu qua dé thiết kế các bài học khoa học dựa trên câu hỏi giúp nâng cao khả năng học tập của HS (Bybee, 2006). Cụ thẻ: + Đối với chương trình TAPESTRIES, GV cho rang sử dụng MHDH SE sẽ giúp chắc chắn trong việc thiết kế các bài học có ý nghĩa, có mục đích cho HS của mình mỗi khi tôi giảng dạy môn khoa học. GV đánh giá cao mô hình này đám bảo việc kết nối với kiến thức trước đó (pha kết nỗi), mang lại các hoạt động thực hành có ý nghĩa (pha khám pha) và hoàn toàn đánh giá các kỹ năng cụ thé mà GV muôn HS lĩnh hội (pha đánh giá). Hay, bằng cách tuân theo MHDH SE, GV sẽ có thé đánh giá HS kiến thức trước khi hoạt động khám phá bắt đầu để các em đánh giá phù hợp với trình độ học tập của các em.
+ Đối với dự án ASTER, MHDH 5E cho phép GV cá nhân hóa các bài học theo nhu cầu của HS. Các nhà giáo dục thưởng dạy các chương hoặc các bài học theo thứ tự được trình bày trong sách. Tuy nhiên, với MHDH SE - cách dạy đa dạng và linh hoạt hướng người học với các van dé gây được sự hứng thú dé luôn tập trung vào chủ đề. MHDH SE là một công cụ dé GV thu hút HS về các chủ dé mà họ có thể không quan tâm nhiều hoặc có nhiều hiểu biết tương tự trước đó.
Để HS lĩnh hội được những khái niệm khoa học thì các em phải tích cực tham vào hoạt động học cũng như phải được GV định hướng dé khám phá được nhiêu điều hơn. GV phải hướng dẫn HS theo những hướng giúp các em quan sát/phát hiện nhằm sửa chữa những quan niệm sai lam của chính mình. Chính sự học hỏi tim hiểu này dẫn đến việc học hỏi thực sự. Và MHDH SE giúp thiết kế các bài học theo cách hỗ trợ kiểu dạy học này.
- Tại Iran, dựa trên nghiên cứu mẫu được chọn từ trường học chính thức của chính phủ. kết hợp phân tích bằng ANCOVA và MANOYA đã khăng định việc áp dụng MHDH SE đã có tác dụng tích cực trong việc học các bài khoa học, và việc Áp dụng MHDH SE làm tang mức độ duy trì của HS; ap dụng mô hình SE có hiệu quả và nâng cao trình độ học tập của HS; MHDH SE mô hình đã có hiệu qua trong ảnh hưởng của HS dé phát trién các khái niệm giáo dục và giảng dạy. Từ đó, việc học tập có ý nghĩa và liên quan đến kiến thức ban đầu của HS. Ngoài ra mức độ tập trung vẻ chủ dé cũng chủ động hơn.
Vi vậy, người học đã tích cực trong quá trình giảng day và sẵn sàng chấp nhận các nhà phê bình khoa học; trên hết, mỗi HS đã sẵn sang dé có một khái niệm có ý nghĩa sâu sắc hơn về chủ đề này. Do đó, nó hiệu quả hơn và được tô chức tốt hơn, so với phương pháp giảng dạy truyền thông (Fazelian, P. - Tại Thô Nhĩ Kỳ, Ergin đã sử dụng MHDH SE cùng với các thiết bị công nghệ dé dạy học cho HS. Kết quả nghiên cứu cho thấy MHDH SE là làm tăng động lực nghiên cứu.
đáp ứng được mong đợi của sinh viên, bao gồm các hoạt động giúp sinh viên có vai chủ động trong học tập. Từ đó gợi mở cho Bộ giáo dục nước này nên sử dụng mô hình nay trong các chương trình giảng dạy. Nếu GV được dao tạo trước khi bat đầu làm việc, họ sẽ có ý tưởng về đặc điểm và cách thực hiện mô hình này, và sẽ có cơ hội thực hiện phương pháp nảy trong các tiết dạy của mình đề giúp đạt hiệu quả cao nhất (Ergin, L, 2012). - Tại Thái Lan, cũng tiền hành vận dụng MHDH SE trên công nghệ đi động cho các HS tiêu học.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng, MHDH SE trên công nghệ di động có thé thúc day kha năng lập luận, hành vi suy luận và động lực nội tại của HS tiêu học, và không chi tăng thành tích học tập mà còn cho phép HS tạo mỗi quan hệ giữa các sự kiện thực tế và các khái niệm khoa học (Siwawetkull & Koraneekij, 2020). - Tai Úc, Gillies and Rafter đã ghi nhận các kết quả tích cực của MHDH SE kết hợp cùng các hình thức biéu dién hình ảnh, thê hiện và ngôn ngữ khác nhau đã thu hút sự tham gia của HS trong các nhiệm vụ tìm hiểu. Trong nghiên cứu, các HS đã thẻ hiện sự hiểu biết rõ ràng vẻ các mỗi quan hệ giữa các hiện tượng khoa học khác nhau mà họ đang điều tra, không có bằng chứng nào cho thấy những cách suy nghĩ và nói chuyện này được khái quát hóa cho các chủ dé khoa học — tìm hiểu khác (Gillies, R. Ở Việt Nam: - Tác giả Vũ Thị Minh Nguyệt đã đưa ra tiền trình đạy học các môn khoa học qua khám phá theo MHDH 5E, sau đó vận dụng nó dé thiết kế mẫu kế hoạch dạy học chủ dé “Vat chat” cap THCS.
Trong đó, có lấy ví dụ minh họa cụ thé cho bài học “Ảnh hưởng của nhiệt độ đến vật chất". Mặc dù chỉ xem MHDH SE là một trong những phương pháp khi dạy học khám phá, cũng như chưa phân tích chỉ tiết ve MHDH SE vẻ tính hiệu quá, nhưng đây vẫn là một trong những đầu tiên cho các nghiên cứu về việc ứng dụng MHDH SE sau này (Vũ Thị Minh Nguyệt, 2016). Tác giả Dương Giáng Thiên Hương đã phân tích sâu hơn vẻ lý thuyết kiến tạo, đặc điểm và tính hiệu quả của MHDH SE trong bối cảnh đôi mới giáo dục theo định hướng phát triển NL người học — đòi hỏi những thay đôi một cách đồng bộ các thành tố của quá trình giáo dục. Từ đó dé xuất phương pháp day học khám phá theo MHDH SE - một hướng vận dung lí thuyết kiến tạo trong dạy học ở tiêu học, với mong muốn biến quá trình day học thành quá trình học tập chủ động cúa người học, giúp người học không chỉ chiếm lĩnh được tri thức mà còn chiếm lĩnh được cách thức hành động.
học tập với sự hứng thú và tự giác. Tuy nhiên, vẫn chưa có một kế hoạch dạy học nào cụ thê, làm sáng rõ cho vấn đề nảy (Giáng Dương Thiên Lý, 2017). Nhằm đáp ứng việc đôi mới chương trình giáo dục phố thông môn Khoa học 2018 từ quan điềm tiếp cận kiến thức sang tiếp cận NL, lay người học làm trung tâm doi hỏi những thay đôi trong việc thiết kế bài dạy của GV. Tác giả Ngô Thị Phương đã nhìn nhận tính hiệu quả mà MHDH SE mang lại: bài dạy được xây dựng theo trình tự các pha từ một tới năm trong MHDH SE sẽ giúp cho việc chuan bị của GV trở nên đơn giản, có tính logic và hệ thông hơn; HS tiếp nhận kiến thức theo các bước của quy trình được thiết kế của GV cũng theo hệ thống và hiệu quả: HS cảm thay dé theo dõi, dé tham gia từng pha học tập và ghi nhớ kiến thức dé dàng hơn (Ngô Thị Phương, 2019).
Từ đó, tác giả đã vận dụng nó vào việc thiết kế chủ dé “Anh sáng” môn Khoa học lớp 4 như một minh họa rõ nét, nhằm khuyến khích, định hướng 4p dụng MHDH SE vào chương trình giáo dục phô thông 2018. Tuy nhiên, kế hoạch day học còn chưa chỉ tiết, cũng như chưa có bằng chứng thực nghiệm nao dé kiểm chứng sự kha thi của nó. Cũng nhằm nghiên cứu xây dựng các tiến trình dạy học nói chung hay Vật lý nói riêng đáp ứng nhu cầu hình thành và phát triển NL người học. Nhóm tác giá Nguyễn Đăng Thuan đã ứng dụng MHDH SE vào dạy học chương “Chat khí" Vật lý 10 theo định hướng phát triên NL cho HS — xu hướng phát triển chung của Giáo dục Việt Nam (Nguyễn Đăng Thuần & Nguyễn Hoàng Phúc, 2020).
Từ đó, GV có thẻ làm tài liệu nghiên cứu, tài liệu giảng dạy, áp dụng dé kiểm tra, đánh giá NL của từng cá nhân HS. Tuy nhiên, để các tiến trình nay phát huy được tác dụng, tác gia cần tiễn hành thực nghiệm sư phạm, đồng thời kết hợp với công cụ khác. Các nghiên cứu về năng lực khoa học tự nhiên trong chương trình giáo dục phổ thông môn Khoa học tự nhiên 2018 Môn KHTN là một môn hoc mới và bat buộc trong chương trình giáo dục phố thông 2018, trong đó yêu cầu phải phát triển những phẩm chất, NL chung, đặc biệt là phát triển NL đặc thù - NL KHTN. Đã có một vài nghiên cứu tiếp cận NL này: - “Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hang va cộng sự đã phân tích NL KHTN thành 6 NL thành phan, trong đó liệt kê các chỉ số hành vi cụ thé, đa chiều.
tiền hành khảo sát sự hiệu biết của GV về mức độ quan trọng của từng chỉ số hành vi. Kết quả cho thấy, hầu hết các GV đều thống nhất với các NL thành phần và các biểu hiện cụ thé của chúng. Tuy nhiên, có một số biéu hiện chưa được đánh giá cao do GV dang từng bước chuyên từ phương pháp day học truyền thụ kiến thức sang phương pháp dạy học tiếp cận NL người học nên đang gặp nhiều khó khăn trong việc xác định các NL thành phần thuộc NL KHTN và các biểu hiện của chúng (Ngô Thị Diễm Hằng, 2019). - Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả Nguyễn Thị Diễm Hãng và Lê Danh Binh đã xây dựng bảng tiêu chí và mức độ phát triển NL của HS theo hướng tiếp cận PISA với 10 tiêu chí và 3 mức độ.
Từ đó, thiết kế hệ thông bài tập môn KHTN theo các tiêu chí khác nhau giúp HS rèn luyện được NL KHTN. Đây vừa là phương tiện dé GV thiết kế các hoạt động day hoc, vừa là công cụ dé GV kiểm tra, đánh giá NL KHTN của HS đẻ điều chính quá trình dạy học.