phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần An Bình giai đoạn 2010-2017 Chƣơng 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần An Bình 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN 1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán Đối với mỗi doanh nghiệp, bộ phận kế toán có vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho các hoạt động tại doanh nghiệp nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, là công cụ đắc lực để quản lý nền kinh tế của nhà nƣớc. Trong khoa học quản lý, kế toán đƣợc nhìn nhận là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.
Kế toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Thông qua bộ phận kế toán, các nhà quản lý có thể theo dõi thƣờng xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, bao gồm quá trình sản xuất, theo dõi thị trƣờng và kiểm soát nội bộ. Từ đó đƣa ra những đánh giá và hƣớng đi phù hợp cho doanh nghiệp trong tƣơng lai. Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của đơn vị kế toán trên cơ sở vận dụng các phương pháp kế toán và tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị nhằm quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tổ chức công tác kế toán tại đơn vị tốt sẽ tạo ra bộ máy kế toán hợp lý, thông qua đó liên kết chặt chẽ giữa các nhân viên kế toán, thực hiện tốt các công việc kế toán tại đơn vị, cung cấp kịp thời tình hình tài sản, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh của đơn vị…đồng thời việc tổ chức công tác kế toán hợp lý sẽ khiến doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hiệu quả cao thông qua các phƣơng pháp, nguyên tắc kế toán. Nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán Với vai trò quan trọng của các thông tin kế toán đối với ngƣời sử dụng thông tin cũng nhƣ để thực hiện đƣợc vai trò của mình, tổ chức công tác kế toán của đơn 7 vị phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị phải hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh, trên cơ sở tổ chức phân cấp và phân công rõ ràng nhiệm vụ cho từng cán bộ kế toán cụ thể của đơn vị. - Tổ chức cho đơn vị thực hiện phƣơng pháp kế toán, nguyên tắc kế toán và chế độ kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kế toán hợp lý và các phƣơng tiện k thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lƣợng thông tin kế toán đƣợc cung cấp. - Phân định rõ ràng mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị về công việc liên quan đến công tác kế toán.
- Thu nhận, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính liên quan của đơn vị cho các cấp lãnh đạo, quản lý. - Tổ chức ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ thông tin vào công tác kế toán, tổ chức bồi dƣỡng, nâng cao trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ kế toán. - Tổ chức hƣớng dẫn các cán bộ, nhân viên trong đơn vị hiểu cũng nhƣ chấp hành chế độ quản lý kinh tế, tài chính nói chung, chế độ kế toán nói riêng và tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ tổ chức. Yêu cầu tổ chức công tác kế toán Nhằm phát huy vai trò của mình thì tổ chức công tác kế toán tại đơn vị phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc yêu cầu sau: - Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp cần đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc, chính sách, chế độ và các quy định của pháp luật hiện hành.
- Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp cần đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa các bộ phận kế toán trong đơn vị, giữa đơn vị chính với các đơn vị thành viên và các đơn vị nội bộ… - Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp phải phù hợp với quy mô, đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, đặc điểm hoạt động của đơn vị. - Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp phải phù hợp với yêu cầu, trình độ quản lý, mức độ trang bị các phƣơng tiện thiết bị phục vụ công tác kế toán. 8 - Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện đƣợc đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, đáp ứng yêu cầu thông tin cho các cấp lãnh đạo và các đối tƣợng quan tâm. - Tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp cần đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả.
Nội dung của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Tổ chức công tác kế toán cần phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của ngƣời làm kế toán. Tổ chức công tác kế toán bao gồm những nội dung công việc sau: - Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán - Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán - Tổ chức hình thức sổ kế toán - Tổ chức bộ máy kế toán - Tổ chức lập và trình bày BCTC - Tổ chức kiểm tra kế toán - Tổ chức ứng dụng CNTT trong công tác kế toán. Công tác kế toán ở doanh nghiệp nào đều bao gồm các giai đoạn cơ bản: Lập chứng từ, ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán. Tổ chức hệ thống chứng từ phù hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh; đầy đủ tính hợp lệ, hợp pháp, tổ chức luân chuyển chứng từ thuận tiện, nhanh chóng.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán phù hợp tùy thuộc đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của đơn vị nhằm phân loại, xử lý và tổng hợp thông tin đƣợc nhanh chóng chính xác. Dựa vào số liệu đã phản ánh trên các sổ kế toán để lập các BCTC theo qui định chung cũng nhƣ lập các báo cáo nội bộ biểu hiện kết quả của công tác kế toán. Tổ chức hệ thống báo cáo phản ánh các mặt hoạt động của đơn vị, đáp ứng cho các đối tƣợng cần sử dụng thông tin của doanh nghiệp. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ, với hoạt động thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp dịch vụ 9 Ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân. Nhờ có các NHTM mà các chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, từ đó việc kiểm soát các hoạt động của các doanh nghiệp đƣợc dễ dàng, theo đúng luật pháp hơn. Theo luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Quá trình hình thành, phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng và đời sống xã hội của ngƣời lao động.
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì đời sống ngƣời lao động đƣợc cải thiện nâng cao kéo theo các hoạt động liên quan đến tiền gửi ngân hàng tăng, làm cho NHTM ngày càng hoàn thiện hơn và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc trong nền kinh tế nƣớc nhà. Hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm: - Hoạt động huy động vốn: Là hoạt động nền tảng, có ý nghĩa to lớn với ngƣời gửi tiền, nền kinh tế, cũng nhƣ bản thân Ngân hàng. Thông qua hoạt động này mà Ngân hàng có thể tập hợp đƣợc các khoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chƣa sử dụng với các thời hạn khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nền kinh tế, hoặc cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng. NHTM có thể huy động vốn thông qua nhiều hình thức trong đó hình thức huy động vốn chủ yếu là nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình… Ngoài ra, một số hình thức huy động vốn không thƣờng xuyên mà NHTM chủ động phát hành các công cụ nợ nhƣ: Chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu Ngân hàng, kỳ phiếu Ngân hàng.
Bên cạnh đó, NHTM có thể vay vốn của các NHTM khác trên thị trƣờng liên Ngân hàng để cân đối ngân qu và bổ sung khả năng thanh toán. - Hoạt động sử dụng vốn: Hoạt động sử dụng vốn chủ yếu và quan trọng nhất là cho vay đối với khách hàng, đây là nghiệp vụ đem lại thu nhập lớn nhất cho Ngân 10 hàng. Lãi thu đƣợc từ hoạt động cho vay, Ngân hàng sẽ dùng nó để trả lãi suất cho nguồn vốn đã huy động và đi vay, thanh toán những chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của Ngân hàng. Ngoài ra, NHTM còn tham gia đầu tƣ, góp vốn liên doanh liên kết trên cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính.
Và một hoạt động sử dụng vốn không có khả năng sinh lời hoặc khả năng sinh lời thấp nhƣng lại quyết định trực tiếp đến khả năng thanh toán và sự tồn tại của Ngân hàng đó là hoạt động ngân qu : NHTM phải duy trì đủ lƣợng tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và tại các NHTM khác, … - Hoạt động cung cấp dịch vụ Ngân hàng: Một số dịch vụ quan trọng nhất mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ bảo lãnh, quản lý tài sản, dịch vụ thông tin, tƣ vấn, bảo hiểm, chứng khoán, … và nhiều dịch vụ Ngân hàng hiện đại khác.