Mở đầu. Chương 2: Trường điện từ kênh sét. Chương 3: Tính toán điện áp cảm ứng trên đường dây truyền tải sử dụng FDTD và RBF-FDTD. Chương 4: Khảo sát sự ảnh hưởng của các thông số đến điện áp cảm ứng.
Chương 5: Kết luận chung và hướng phát triển luận văn. HV: Huỳnh Ngọc Trọn MSHV: 13181111 Trang 3 Chương 2: Trường điện từ kênh sét GVHD: T.S Vũ Phan Tú CHƯƠNG 2 TRƯỜNG ĐIỆN TỪ KÊNH SÉT Sét là nguồn phát ra trường điện từ chính trong tự nhiên. Việc xác định trường điện từ kênh sét là vần đề quan trọng trong việc bảo vệ cho hệ thống điện phân phối trước điện áp cảm ứng do sét gây ra. Trường điện từ kênh sét phụ thuộc vào mô hình dòng điện kênh sét.
Cho nên việc xác định mô hình dòng điện kênh sét là điểm mấu chốt trong việc xác định trường điện từ. Các quan sát thực nghiệm về quang học và trường điện từ gây ra bởi các tia sét được thực hiện từ rất lâu đến nay đã cung cấp cho chúng ta các kiến thức quan trọng về cơ chế của quá trình xả sét. Tuy nhiên, các kiến thức về sét tự nhiên không đầy đủ như các tia sét nhân tạo được tạo ra ở các phòng thí nghiệm vì chúng ta không thể quan sát các tia sét tự nhiên dưới các điều kiện được kiểm soát. Cho nên các mô hình toán để mô tả cơ chế của sét chưa thật sự tốt mặc dù các đặc điểm chính của tia sét đã được hiểu rõ.
Bất kỳ mô hình kênh sét nào cũng là một cấu trúc toán học gần đúng được đưa ra để tái tạo được các đặc tính vật lý của sét. Các điều kiện giả thuyết ban đầu của các mô hình phải phù hợp với các đại lượng đầu vào và đầu ra mong muốn của mô hình. Mô hình kênh sét là công thức toán có khả năng dự báo sự thay đổi theo không gian và thời gian của dòng điện kênh sét; sự thay đổi của tốc độ kênh sét; các đặc tính theo không gian, thời gian của sự phát xạ ánh sáng; các đặc điểm của trường điện từ ở khoảng cách khác nhau và các dấu hiệu của sét. Trên cơ sở khái niệm và mục tiêu của các mô hình, chúng ta có thể chia các mô hình thành 4 nhóm chính như sau: + Mô hình điện - nhiệt động (Electro-Thermodynamic model).
+ Mô hình đường dây truyền tải (Transmission Line model). + Mô hình điện từ (Electromagnetic model). + Mô hình kỹ thuật (Engineering model). Trong khuôn khổ luận văn này, mô hình kỹ thuật sẽ được phân tích xem xét đến thời điểm hiện tại và qua đó lựa chọn mô hình phù hợp để tính toán trường điện từ do kênh sét gây ra.
Mô hình kỹ thuật kênh sét: Các mô hình kỹ thuật kênh sét được tạo ra từ 2 quan điểm tiếp cận cơ bản như sau: + Dòng điện kênh sét thay đổi theo không gian và thời gian, được sử dụng để tính trường điện từ. Đại lượng ngỏ ra duy nhất của mô hình là trường điện từ kênh sét có thể được so sánh với giá trị đo đạc được để đánh giá mô hình. HV: Huỳnh Ngọc Trọn MSHV: 13181111 Trang 4 Chương 2: Trường điện từ kênh sét GVHD: T.S Vũ Phan Tú + Dòng điện và tốc độ của kênh sét thay đổi theo không gian và thời gian. Các mô hình dựa trên cách tiếp cận này có thể cho ra ít nhất 2 đại lượng trong các đại lượng sau: 1.
Dòng điện đáy kênh sét. Độ biến thiên của dòng điện theo không gian và thời gian dọc kênh sét. Độ biến thiên của tốc độ kênh sét theo độ cao. Trường điện từ kênh sét.
Tổng quan các mô hình kênh sét cho đến thời gian gần đây, chúng ta có thể phân loại các mô hình kỹ thuật thành 3 nhóm như sau: A. Mô hình lan truyền dòng điện (Current Propagation Model). Mô hình kiến tạo dòng điện (Current Generation Model). Mô hình suy hao dòng điện (Current Dissipation Model).
Phần tiếp theo của chương này sẽ tổng quan các nhóm mô hình kỹ thuật kênh sét và qua đó đánh giá, lựa chon mô hình phù hợp sử dụng tính toán trường điện từ áp dụng trong luận văn. Mô hình lan truyền dòng điện: Nguyên lý cơ bản của các mô hình lan truyền dòng điện là giả sử đường dây truyền tải đồng nhất và không tổn hao, một xung dòng điện được bơm vào đường dây, lan truyền với tốc độ không đổi và không suy hao biên độ. Đường dây truyền tải không ảnh hưởng đến dòng điện (trừ trường hợp đi vào vùng có vầng quang) mà chỉ là đường dẫn cho xung dòng điện lan truyền từ nơi này đến nơi khác. Kênh sét phóng ngược là một xung dòng điện được tạo ra từ mặt đất bởi đầu kênh sét và lan truyền trên đường dây truyền tải không tổn hao đến đám mây.
Các mô hình sét thuộc nhóm này thường được sử dụng là mô hình đường dây truyền tải của Uman and McLain (TL – Tranmission Line), mô hình đường dây truyền tải có dòng điện suy hao theo hàm mũ của Nucci và đồng nghiệp (MTLE - Modified Transmission Line model with Exponential current decay), mô hình đường dây truyền tải có dòng điện suy hao tuyến tính của Rakov và Dulzon (MTLL - Modified Transmission Line model with Linear current decay), mô hình của Bruce và Gold (BG), mô hình có dòng điện suy hao và phân tán trong khi tốc độ kênh sét cũng thay đổi được giới thiệu bởi Cooray và Orville. Để mô tả mô hình dạng này ta giả sử rằng quá trình sét đánh ngược bao gồm 2 sóng. Sóng thứ nhất di chuyển với tốc độ vf (có thể là một hàm theo độ cao) chuẩn bị kênh vận chuyển điện tích và dòng điện. Sóng thứ hai là sóng dòng điện và điện tích tương ứng di chuyển ngược lên trên theo tốc độ trung bình v (là hàm theo độ cao).
Sóng dòng điện không thể xuyên qua dòng plasma đang lan truyền (để chuẩn bị cho kênh dẫn) HV: Huỳnh Ngọc Trọn MSHV: 13181111 Trang 5 Chương 2: Trường điện từ kênh sét GVHD: T.S Vũ Phan Tú nên nếu vf < v thì dòng điện sẽ bị gián đoạn do bị tập trung ở đầu dòng plasma. Nhưng nếu vf ≥ v thì dòng điện sẽ liên tục và dòng điện tại độ cao z được xác định được xác định theo mô hình TL, MTLE, MTLL, BG theo bảng sau: Với t ≥ z/ vf ta có: Mô Biểu thức dòng điện Mật độ dòng điện hình TL I ( z , t ) I (0, t z / v) I (0, t z / v) L ( z, t ) v I ( z, t ) e z / I (0, t z / v) I (0, t z / v) e z / t MTLE z/ v z / L ( z, t ) e I (0, t z / v)dt v z z I (0, t z / v) 1 t I ( z, t ) (1 ) I (0, t z / v) H z/ v MTLL L ( z , t ) (1 ) I (0, t z / v)dt H H v I ( z , t ) I (0, t ) I (0, t z / v f ) BG L ( z, t ) vf Với vf = const, H = const, λ = const Minh họa dòng điện kênh sét theo mô hình cho các lần sét đánh sau (Subsequent Stroke –SS): z1=1500m và z2=3000m, λ = 2km, v=108m/s, H = 7,5 km, vf = 108m/s. Công thức mô tả dòng điện đáy kênh sét bằng các hàm Heidler: (t / 11 ) n1 t /12 I p 2 (t / 21 ) n2 t / 22 I b (0, t ) 1 2 I p1 e e (2.1) (t / 11 ) n 1 (t / 21 ) n2 1 m e[ ( / )( n / ) 1/ nm m1 m2 m m2 m1 Với thông số cho lần sét đánh đầu tiên (First Stroke – FS) và các lần sét đánh sau (Subsequent Stroke –SS) thường được sử dụng trong các tài liệu như sau: HV: Huỳnh Ngọc Trọn MSHV: 13181111 Trang 6 Chương 2: Trường điện từ kênh sét GVHD: T.S Vũ Phan Tú (a) (b) (c) (d) (e) (f) Hình II. Dạng sóng dòng điện đáy kênh sét theo hàm Heidler (I.1) (a) FS, (b) SS và dòng điện phân bố dọc kênh sét theo các mô hình (c) Mô hình TL, (d) Mô hình MLTE, (e) Mô hình MTLL, (f) Mô hình BG.
Mô hình kiến tạo dòng điện: Nguyên lý cơ bản của các mô hình kiến tạo dòng điện là kênh dẫn đã được nạp điện tích và dòng điện kênh sét được tạo ra từ một sóng điện thế mặt đất di chuyển dọc HV: Huỳnh Ngọc Trọn MSHV: 13181111 Trang 7 Chương 2: Trường điện từ kênh sét GVHD: T.S Vũ Phan Tú theo kênh dẫn từ mặt đất đến các đám mây điện tích. Đầu sóng lan truyền đến một điểm nào đó trên kênh dẫn sẽ thay đổi điện tích của điểm đó từ điện tích của đám mây thành điện tích đất gây ra sự giải phóng các điện tích ở trung tâm lõi kênh dẫn tạo ra vầng quang gây ra sự tăng dòng điện trong kênh dẫn gọi là dòng điện vầng quang. Mọi điểm trên kênh dẫn lúc này có thể xem như là một nguồn tạo ra dòng điện khi đầu kênh sét lan truyền đến điểm đó. Trong hầu hết các mô hình kênh sét thuộc nhóm này đều cho rằng tốc độ lan truyền kênh sét bằng với tốc độ ánh sáng.
Khái niệm cơ bản của mô hình kiến tạo dòng điện được Wagner giới thiệu lần đầu năm 1956. Wagner cho rằng quá trình trung hòa vỏ bao vầng quang cần một khoảng thời gian nhất định và cho nên dòng điện vầng quang sử dụng hàm mũ suy giảm để thể hiện. Hệ số suy giảm trong hàm dòng điện được gọi là hệ số suy giảm vầng quang. Tuy nhiên, Wagner cho rằng dòng điện vầng quang lan truyền với tốc độ vô cực.
Lin và đồng nghiệp giới thiệu mô hình có sự kết hợp giữa khái niệm mô hình lan truyền dòng điện và mô hình kiến tạo dòng điện. Trong mô hình này, phần dòng điện vầng quang được mô tả bằng hàm mũ kép và tốc độ lan truyền của dòng vầng quang bằng tốc độ ánh sáng. Theo sau đó, Master và đồng nghiệp đã hiệu chỉnh mô hình của Lin tuy nhiên phần khái niệm mô hình kiến tạo dòng không thay đổi. Heidler đã xây dựng mô hình của mình dựa trên nguyên lý này có dòng điện đáy kênh sét và tốc độ kênh sét là các thông số ngõ vào.