Đặt vấn đề Hiện nay, chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp lƣơng thực có tỷ trọng và chất lƣợng cao phục vụ nhu cầu ăn uống của con ngƣời, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, sản phẩm phụ (da, mỡ,.) cho ngành công nghiệp chế biến, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngƣời lao động. Trên thế giới, ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng. Sản lƣợng thịt hằng năm đạt 80 triệu tấn. Còn riêng ở Việt Nam, chăn nuôi lợn cũng đang có tốc độ tăng trƣởng khá nhanh, só lƣợng đầu lợn đứng thứ 7 thế giới (năm 2007).
Nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật vào thực tiễn sản xuất mà trong những năm qua chăn nuôi lợn đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ, nhƣng trong thời đại CNH – HĐH thì việc chăn nuôi lợn không thể chỉ dừng ại ở đó mà cần phát triển nhanh, mạnh, bền vững, quản lý tốt đàn lợn đặc biệt là đàn lợn nái sinh sản hơn nữa. Ở lợn nái sinh sản thƣờng thấy mắc nhiều bệnh trong đó không thể không nói đến bệnh: viêm tử cung, bệnh gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế đối với các cơ sở chăn nuôi. Xuất phát từ đòi hỏi thực tế của sản xuất cũng nhƣ để thấy rõ những ảnh hƣởng của bệnh tật, công tác chăm sóc nuôi dƣỡng, vệ sinh phòng bệnh. đối với chăn nuôi lợn nái sinh sản, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và biện pháp điều trị” c 2 1.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại. - Tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. - Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung và rút ra phác đồ điều trị tốt hơn.
Yêu cầu Theo dõi, quan sát đƣợc tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản và đƣa ra biện pháp phòng trị bệnh. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Tứ Kỳ là một huyện thuộc tỉnh Hải Dƣơng nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ.
Cũng giống nhƣ các huyện khác của tỉnh Hải Dƣơng, Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lƣu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện đƣợc hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này. phía Đông bắc giáp huyện Thanh Hà (ranh giới là sông Thái Bình); phía Tây bắc giáp thành phố Hải Dƣơng; phía tây giáp huyện Gia Lộc; phía tây nam giáp huyện Ninh Giang, phía Đông nam giáp huyện Vĩnh Bảo (ranh giới là sông Luộc); phía đông giáp huyện Tiên Lãng (ranh giới là một đoạn sông Thái Bình), đều là các huyện của thành phố Hải Phòng; Ngã ba sông Luộc đổ vào sông Thái Bình nằm trên ranh giới này. Hầu nhƣ xung quanh huyện đƣợc bao bọc bởi các con sông nhỏ của hệ thống sông Thái Bình. Chính giữa địa bàn huyện là con sông Tứ Kỳ, con sông này chảy qua huyện Ninh Giang theo hƣớng từ Tây sang Đông, đổ vào huyện Tứ Kỳ ở địa phận xã rồi chạy dọc theo chiều dài của huyện theo hƣớng Tây Bắc - Đông nam, men theo thị trấn Tứ Kỳ ở đoạn giữa Thị trấn, xã Văn Tố với xã Minh Đức, đến đoạn giữa xã Phƣợng Kỳ và xã Hà Thanh tách làm hai, một nhánh chảy xuống phía nam đổ vào sông Luộc nơi tiếp giáp giữa xã Tiên Động với Vĩnh Bảo ra cầu Quý Cao sang huyện Tiên Lãng- Hải Phòng; một nhánh qua giữa Xã Nguyên Giáp và Tiên Động chảy ra Cầu Xe trƣớc khi đổ vào sông Thái Bình tại địa phận giữa xã An Thanh và Quang Trung, đây là ngã ba ranh giới giữa các huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà và Tiên Lãng.
Diện tích: 170,03 km². c 4 Mật độ: 970 ngƣời/km² Tái Sơn là một xã thuộc huyện Tứ Kỳ, Hải Dƣơng, Việt Nam. Xã Tái Sơn có diện tích 3,55 km2, dân số năm 1999 là 3298 ngƣời, mật độ dân số đạt 929 ngƣời/km2. Xã Tái Sơn là tên gọi chung sau Cách mạng tháng Tám khi đã sáp nhập 2 xã trong lịch sử là: xã Ngọc Tái (có 3 thôn: thôn Tƣợng, thôn Trung, thôn Ngọc Trấn-tên chỉ đƣợc sử dụng từ đời vui Nguyễn Thành Thái, trƣớc có tên là Ngọc Đƣờng) và xã Thiết Tái.
Trang trại chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh nằm độc lập giữa một vùng bát ngát màu xanh của cánh đồng lúa, đƣợc thành lập và đi vào sản xuất năm 2007 địa điểm xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Điều kiện khí hậu Huyện Tứ Kỳ nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rỗ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai – đầu tháng tƣ dƣơng lịch) có hiện tƣợng mƣa phùn và nồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa mƣa sang mùa khô. Mùa mƣa kéo dài từ tháng tƣ đến tháng mƣời hằng năm.
Cơ cấu tổ chức của trại Trại gồm có 31 ngƣời trong đó có: + 2 quản lý + 1 kỹ sƣ chính của công ty + 2 tổ trƣởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ) + 1 bảo vệ + 14 công nhân trong chuồng + 8 công nhân ngoài đồng + 2 cấp dƣỡng + 1 lái xe + 1 kế toán c 5 2. Cơ sở vật chất của trại - Về quy mô: Trang trại có tổng diện tích 3ha, trong đó xây dựng 1ha khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và 2ha trồng cây xanh và ao hồ. Khu chăn nuôi của trại chuyên nuôi lợn sinh sản do công ty CP cung cấp hai giống lợn Landrat – Yorshine và Pitrain – Duroc. Hiện nay trại nuôi 1.200 con lợn nái ngoại, 30 con lợn đực, 120 con lợn hậu bị.
Lợn con sau khi sinh từ 19 đến 23 ngày thì đƣợc xuất chuồng. Trại luôn thực hiện tốt các quy trình chăm sóc, ứng dụng tốt các quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi. Trại đƣợc chia làm nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dƣỡng phù hợp với từng loại lợn. Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn dinh dƣỡng cũng phải khác nhau.
Trang trại có 31 lao động nhƣng đảm nhiệm chăm sóc nuôi dƣỡng cho hàng nghìn con lợn. Mỗi con lợn có một thẻ nái riêng về việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, cai sữa đều chính xác đến từng ngày. Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi đƣợc quản lý nghiêm ngặt. Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dùng và phải đi qua hệ thống sát trùng.
Xung quanh trang trại đƣợc trồng cây xanh, đào những hồ sinh học tạo môi trƣờng thông thoáng cho lợn sinh trƣởng. Mô hình chăn nuôi của ông Bùi Huy Hạnh không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là mô hình phát triển bền vững, đƣợc nhân rộng trong toàn tỉnh. Và đây cũng là nơi rất tốt cho sinh viên đến thực tập, trải nghiệm nâng cao tay nghề. -Về cơ sở vật chất : + Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày nhƣ: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,.
c 6 + Những vật dụng cá nhân nhƣ : kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng đƣợc trại chuẩn bị. + Trại còn đầu tƣ mua bàn chơi pi-a, cầu lông, bóng bàn để công nhân giải trí sau giờ làm việc. + Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi đƣợc trại chú trọng đầu tƣ hơn hết: - Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giƣờng nằm (đối với chuồng đẻ) đƣợc lắp đặt theo dãy. - Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nƣớc cho lợn tự động.
- Có hệ thống đèn điện sƣởi ấm cho lợn con vào mùa đông. - Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện. - Về cơ sở hạ tầng: + Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt : khu điều hành và khu sản xuất + Khu điều hành gồm nơi ăn, ở của công nhân và nơi làm việc của chủ trại cùng với khu đào tạo kỹ thuật của công ty CP. + Khu sản xuất gồm 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 2 chuồng cách ly, kho cám, kho thuốc, nhà xuất lợn con, trạm điện, xƣởng cơ khí, nhà sát trùng.
+Nguồn nƣớc thải rửa chuồng trại đƣợc gom, chảy đến 3 hầm Biogas, có tổng dung tích 150 m3. Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu tình hình trong và ngoài nƣớc 2. Tổng quan tài liệu 2. Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục của lợn nái Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [7], cơ quan sinh dục của lợn nái đƣợc chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài.
c 7 + Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo. + Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình. - Bộ phận sinh dục bên trong. Buồng trứng đƣợc hình thành trong giai đoạn phôi thai.
Cấu tạo: Phía ngoài buồng trứng đƣợc bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc nhƣ màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng đƣợc chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy. Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dƣỡng và bảo vệ. Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
Miền vỏ gồm ba thành phần: Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt. Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dƣới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum). Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum).
* Ống dẫn trứng: (vòi Fallop) Ống dẫn trứng đƣợc treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng.