Đặt vấn đề. Với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, cùng với nhu cầu về nhà ở ngày càng lớn khi mà có sự bùng nổ về dân số, đòi hỏi các công trình xây dựng trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang phát triển với cấp tiến về chiều cao c ng nhƣ độ phức tạp. Khi chiều cao của công trình càng tăng thì mức độ phức tạp và ảnh hƣởng của tải trọng ngang càng lớn và nổi trội. Vì vậy, yêu cầu đầu tiên đối với ngƣời kỹ sƣ thiết kế là xác định đƣợc tải trọng ngang tác dụng lên công trình.
Tải trọng ngang tác dụng lên công trình bao gồm: tải trọng gió và tải trọng động đất. Ở Việt Nam, do đặc điểm địa lý nằm trong vùng nhiệt đới, đƣờng bờ biển kéo dài trên 3.000 km, nằm trong vùng ảnh hƣởng trực tiếp của bão Tây Bắc Thái Bình Dƣơng. Do vậy việc xác định đƣợc giá trị của tải trọng gió tác động lên công trình ở Việt Nam là càng trở lên quan trọng. Do đó Luận văn này tập trung nghiên cứu một số tiêu chuẩn tính toán gió của một số nƣớc trên thế giới ( Tiêu chuẩn Châu Âu, Tiêu chuẩn Mỹ).
So sánh với tiêu chuẩn tính toán tải trọng gió theo Tiêu chuẩn Việt Nam. Từ đó có sự so sánh, đánh giá, đề xuất cho việc tính toán tải trọng gió tác động lên công trình ở Việt Nam. Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống các tiêu chuẩn về thiết kế kết cấu công trình xây dựng nói chung đƣợc hình thành qua nhiều năm, chủ yếu dựa trên sự chuyển dịch từ các tiêu chuẩn của Nga (Liên Xô c ), Anh, Mỹ, ISO, Trung Quốc, Úc… Khi thiết kế một công trình, các tiêu chuẩn đƣa vào sử dụng đòi hỏi sự liên quan chặt chẽ với nhau về tải trọng, vật liệu khi đƣa vào trong tính toán nghĩa là hệ thống tiêu chuẩn phải có tính đồng bộ cao. Việc song song tồn tại nhiều loại tiêu chuẩn theo các nƣớc khác nhau đang gây lên những khó khăn cho việc đồng bộ đó.
Các tiêu chuẩn nằm trong hệ thống tiêu chuẩn chung Châu Âu, Hoa kỳ đƣợc xây dựng trên nguyên tắc là đƣa ra các giả thiết, những chỉ d n tính toán chung kèm theo các quy định rất chặt chẽ, rõ ràng. Trên cơ sở đó mỗi nƣớc phải có những nghiên cứu phù hợp với những điều kiện thực tế riêng của mình. Vì vậy, để áp dụng tiêu chuẩn nƣớc ngoài (Châu Âu, Hoa Kỳ) vào Việt Nam c ng phải dựa trên 1 nguyên tắc đó và cần có sự nghiên cứu đƣa ra chỉ d n tính toán để các kỹ sƣ có thể sử dụng mà không bị bỡ ngỡ, tránh đƣợc những sai xót trong tính toán. Việc nghiên cứu EN 1991-1-4 & ASCE/SEI 7-05, so sánh với TCVN 2737:1995- tiêu chuẩn tải trọng và tác động để chỉ ra những điểm chung và khác nhau của ba tiêu chuẩn, từ đó đƣa ra nhƣng lƣu ý, chỉ d n tính toán chi tiết khi tính toán theo TCVN cho những công trình tại Việt Nam là rất cần thiết.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài luận văn: “So sánh tiêu chuẩn tính toán tải trọng gió theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN2737:1995 với tiêu chuẩn Châu Âu EUROCODES EN1991-1-4 & tiêu chuẩn Hoa Kỳ ASCE/SEI 7-05.” làm nội dung nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Đánh giá so sánh quy trình tính toán, số liệu tính toán và kết quả tính toán giữa tiêu chuẩn EN 1991-1-4:2004 & ASCE 7-05 với TCVN 2737-1995. Đánh giá, nhận xét kết quả tính toán tải trọng gió tác dụng lên công trình tính theo tiêu chuẩn EUROCODE & Hoa Kỳ với tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành (TCVN 2727:1995) thông qua một trƣờng hợp ví dụ cụ thể. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là: So sánh quy trình, số liệu tính toán tải trọng gió tác dụng lên nhà cao tầng tính toán theo quan điểm của tiêu chuẩn EUROCODE, Hoa kỳ ASCE/SEI 7-05 và tiêu chuẩn TCVN 2737-1995.
Nội dung nghiên cứu Tìm hiểu các khái niệm về gió bão, nguyên nhân hình thành. Tìm hiểu một số giải pháp làm giảm thiểu tác hại của gió bão Tìm hiểu tiêu chuẩn TCVN 2737:1995, EN-1991-1-4, ASCE/SEI 7-05: quy trình tính toán tải trọng gió tác dụng lên công trình. Chỉ ra sự giống và khác nhau về quan điểm tính toán, số liệu tính toán giữa ba tiêu chuẩn. Ví dụ áp dụng tính toán tải trọng gió lên một dạng công trình tính theo tiêu chuẩn EUROCODE, Hoa Kỳ và theo tiêu chuẩn Việt Nam: Nhà cao tầng.
2 CHƯ NG 1: TỔNG QUAN VỀ GIÓ, TẢI TRỌNG GIÓ, MỘT SỐ TIÊU CHUẨN VỀ TÍNH TOÁN TẢI TRỌNG GIÓ 1. Tổng quan về gió [6,8,9]. Khái niệm, nguyên nhân hình thành, phân loại. Gió là một hiện tƣợng trong tự nhiên hình thành do sự chuyển động của không khí.
Nguyên nhân hình thành gió là do bề mặt trái đất tiếp nhận sự chiếu sáng, đốt nóng của mặt trời không đều, sẽ có nhiệt độ không đều. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vị trí gây nên sự chênh lệch về khí áp, ở nơi có nhiệt độ gia tăng, không khí nóng lên (hạ áp) và bị không khí lạnh (áp suất lớn) ở xung quanh dồn vào, đẩy lên cao, tạo thành dòng thăng. Dòng thăng này làm hạ khí áp tại nơi đó, không khí lạnh ở vùng xung quanh di chuyển theo chiều nằm ngang đến thay thế cho lƣợng không khí đã bị bay lên vì nóng, tạo thành gió ngang. Quy luật tự nhiên là không khí thƣờng xuyên chuyển động theo cả chiều nằm ngang và thẳng đứng.
Không khí di chuyển theo chiều nằm ngang càng mạnh thì gió thổi càng lớn. Gió đặc trƣng bởi hướng và vận tốc. Chiều di chuyển của dòng khí tạo thành hƣớng gió: gọi theo tên nơi xuất phát có 16 hƣớng gió tƣơng ứng với 16 phƣơng vị địa lý. Vận tốc gió là vận tốc di chuyển của dòng khí qua một điểm nhất định.
Có thể biểu thị vận tốc gió theo các đơn vị khác nhau nhƣ ngành hàng hải và hàng không tính bằng hải lý/giờ. Khi dùng đơn vị SI vận tốc gió tính bằng đơn vị m/s hoặc km/h. Tính chất, đặc điểm của gió Gió có một đặc điểm rất quan trọng là ảnh hƣởng đến các vật xung quanh: Gió tác động đến sự vận động của biển nhƣ: hiện tƣợng tạo sóng (sóng là một trong sự vận động của biển) Gió thƣờng có lợi cho con ngƣời. Nó có thể làm quay các cánh quạt của các cối xay gió giúp chúng ta tạo ra nguồn điện, đẩy thuyền buồm, thả diều… Nó là một trong những nguồn năng lƣợng sạch.
Nhƣng đôi khi gió lại có hại cho đời sống của con ngƣời. Đó là trong các cơn bão, gió có vận tốc cao dễ làm ngã đổ cây cối, cột 3 đèn, làm tốc mái nhà… gây thiệt hại nghiêm trọng đối với cơ sở vật chất, sức khỏe và tính mạng của con ngƣời. Thời điểm xuất hiện và tốc độ gió là không tuân theo quy luật, gió có thể xuất hiện tại một thời điểm và hƣớng bất kỳ với tốc độ mạnh yếu khác nhau. Tác động của gió vào công trình và các biện pháp giảm thiểu.
Tác động của gió vào công trình [6,7]. Gió thổi gây áp lực lên mọi vật cản trên đƣờng đi của nó, gọi là áp lực gió. Áp lực này tỷ lệ với bình phƣơng vận tốc gió. Theo thời gian, vận tốc gió luôn luôn thay đổi gây nên sự mạch động của gió.
Vì thế gió bão gây áp lực lớn lên công trình, rất nguy hiểm và có sức phá hoại rất lớn. Khi gió thổi vƣợt qua một công trình thì tất cả các vùng của công trình đó đều chịu một áp lực nhất định. Phía đón gió xuất hiện áp lực trội đập trực tiếp vào mặt đón; ở phía sau công trình, phía khuất gió và ở bên hông (mặt bên) công trình xuất hiện áp lực âm do gió hút. Trạng thái biến đổi của dòng thổi qua công trình phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ các kích thƣớc của các mặt để tạo thành hình khối, vào thể loại và trạng thái bề mặt công trình.
Trạng thái dòng thổi còn phụ thuộc vị trí tƣơng đối của công trình so với các công trình lân cận và cảnh quan khu vực (bờ cao, sƣờn dốc, núi đồi, thung l ng…). Trạng thái này ảnh hƣởng đến góc tới của dòng thổi, làm thay đổi cả định tính, định lƣợng của áp lực gió lên công trình. Dƣới tác dụng của tải trọng gió, các công trình cao, mềm, độ thanh mảnh lớn sẽ có dao động. Tuỳ theo phân bố độ cứng của công trình mà dao động này có thể theo phƣơng bất kỳ trong không gian.
Thông thƣờng chúng đƣợc phân tích thành hai phƣơng chính: phƣơng dọc và phƣơng ngang luồng gió, trong đó dao động theo phƣơng dọc luồng gió là chủ yếu. Với các công trình thấp, dao động này là không đáng kể; nhƣng với các công trình cao khi dao động sẽ phát sinh lực quán tính làm tăng thêm tác dụng của tải trọng gió. 4 Tác dụng của gió lên công trình bị chi phối chủ yếu bởi vận tốc và hƣớng thổi của nó. Vì vậy mọi tham số làm biến đổi hai yếu tố này sẽ làm ảnh hƣởng đến trị số và hƣớng của tác dụng.
Các thông số này có thể chia làm 3 nhóm chính sau đây: Nhóm các thông số đặc trƣng cho tính ng u nhiên của tải trọng: vận tốc, độ cao, xung áp lực động Nhóm các thông số đặc trƣng cho địa hình: Độ nhám môi trƣờng mà gió đi qua, loại địa hình, mức độ che chắn. Nhóm thông số đặc trƣng của bản thân công trình: hình khối công trình và hình dạng bề mặt đón gió; các yếu tố ảnh hƣởng của dao dộng riêng (chu kỳ, tần số, giá trị, khối lƣợng và cách phân bố khối lƣợng, dạng và độ tắt dần của dao động) 1. Tác động của gió lên nhà cao tầng. Khác với nhà thấp tầng, nhà cao tầng chịu tác động của tải trọng gió rất lớn vì càng lên cao tốc độ gió càng mạnh.
Do càng lên cao càng ít vật cản nên nhà cao tầng sẽ chịu hầu nhƣ hoàn toàn tác động của gió. Ngoài ra tác động của gió lên nhà cao tầng khác với nhà thấp tầng đó là ảnh hƣởng lớn của mô men xoắn gây lên. Mô men xoắt xuất hiện do áp lực không đều, mặt cắt ngang công trình không đối xứng hoặc do tâm hình học và tâm cứng không trùng nhau. Nhà cao tẩng không chỉ có tải trọng đứng lớn hơn mà điều khác biệt lớn nhất chính là tải trọng ngang ở nhà nhà cao tầng( tải trọng ngang trong đó có tải trọng gió).
Nhà cao tầng chịu tải trọng gió lớn, mức độ phức tạp trong tính toán c ng tăng lên.