CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NHTM ĐỐI VỚI DNNVV 1.Những vấn đề cơ bản về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Theo Luật DN số 8/ 0 4/QH 3 được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày / / 0 4, “DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Có rất nhiều cách phân loại DN: phân loại theo hình thức sở hữu, DN gồm có: DNNN, DNTN, công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty CP theo quy mô, DN được phân làm ba loại: DN lớn, DN vừa và DN nhỏ. Ở Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các DNNVV, ngày 30/ / 009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 5 / 009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó, DNNVV được định nghĩa như sau: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên”. Tiêu chí xác định DNNVV Hiện nay có rất nhiều tiêu thức để phân loại DNNVV. Một số tiêu thức như: vốn, lao động, doanh thu, lợi nhuận,. Tuy nhiên, mỗi một nước, mỗi một nền kinh tế lại lựa chọn các tiêu thức khác nhau, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.
Trong đó, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất ở phần lớn các nước là quy mô vốn và lao động. Thông thường, các nước có trình độ phát triển càng cao thì quy định về chỉ tiêu quy mô vốn cũng như lao động càng cao so với các nước có trình độ phát triển thấp hơn.lai download by : skknchat@gmail.lai 7 Theo Nghị định số 5 / 009/NĐ-CP, DNNVV được phân loại như sau: Quy mô DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, từ trên 0 từ trên 0 tỷ từ trên 00 0 người 0 tỷ đồng lâm nghiệp người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống và thủy sản 00 người 00 tỷ đồng 300 người II. Công từ trên 0 từ trên 0 tỷ từ trên 00 0 người 0 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 00 người 00 tỷ đồng 300 người III.
Thương từ trên 0 từ trên 0 tỷ từ trên 50 0 người 0 tỷ đồng mại và dịch người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống vụ 50 người 50 tỷ đồng 00 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính Phủ. Đặc điểm của DNNVV Một là, DNNVV có quy mô hoạt động SXKD nhỏ và tiềm lực tài chính thấp. Đây là đặc điểm nổi bật của DNNVV, với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của DNNVV là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho DNNVV như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh,.
Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNNVV phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, nhiều lĩnh vực kinh tế bù vào các khoảng trống mà các DN lớn để lại. Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNNVV bị hạn chế trong khả năng thực hiện dự án đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu. Các DNNVV thường không đạt được lợi thế về quy mô như các DN lớn. Hơn nữa, quy mô nhỏ kèm vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các DN khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng cũng như từ thị trường chứng khoán.
Đối với các DN đã tiếp cận được nguồn vốn TDNH, nguồn tài trợ này không luan.lai download by : skknchat@gmail.lai 8 phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của DN do DN chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn của ngân hàng như: dự án, phương án SXKD hiệu quả không cao, vốn tự có tham gia không đủ tỷ lệ quy định, tài sản bảo đảm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng,. Hai là, DNNVV có tính năng động, nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Đây là một ưu thế nổi trội của DNNVV, với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, DNNVV có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường.
Với cơ sở vật chất không lớn, DNNVV đổi mới linh hoạt hơn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội. Chính nhờ tính linh hoạt, khả năng thích ứng với thị trường và chấp nhận rủi ro mà loại hình DN này có khả năng đổi mới, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế và tự nó đã thực hiện chức năng kinh tế to lớn đối với xã hội. Ba là, DNNVV đa dạng về loại hình DN; ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú. DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình như: DNNN, DNTN, công ty TNHH, công ty CP,.
trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô nhỏ, nhờ khả năng tận dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi theo nhu cầu của thị trường nên DNNVV phát triển nhanh chóng và là nhân tố đóng góp nhiều vào ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bốn là, chiến lược SXKD, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh hạn chế. Nhiều DNNVV thiếu một chiến lược kinh doanh r ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của DN mà đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch SXKD mang tính tạm thời, ngắn hạn.
Do đó, trước những biến động của thị trường, DNNVV thường có xu hướng đi chệch ra sứ mệnh, mục tiêu đề ra ban đầu và thiếu sự điều chỉnh kịp luan.lai download by : skknchat@gmail.lai 9 thời, hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt l i để giúp các DN nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với DNNVV, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất thường không được thường xuyên nên d n tới hệ quả là các DNNVV thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ nên DNNVV gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, do quy mô thị trường của DNNVV thường hạn hẹp trong phạm vi địa phương, chưa có nhiều khách hàng lớn, khách hàng truyền thống, nên việc mở rộng thị trường là rất khó làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DNNVV.
Năm là, hoạt động của DNNVV phụ thuộc nhiều vào biến động của môi trường kinh doanh. Quy mô vốn thấp, hoạt động SXKD mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn vốn huy động hạn chế d n đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Tuy vậy, với quy mô nhỏ, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi dễ dàng chuyển hướng SXKD, tăng giảm lao động, thậm chí chuyển địa điểm SXKD dễ dàng hơn các DN lớn.
Sáu là, DNNVV có bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lực quản trị chưa cao. Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, không có quá nhiều khâu trung gian đã làm tăng hiệu quả hoạt động của DN các quyết định, các chỉ tiêu, các định hướng SXKD đến với người lao động một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí quản lý DN và nhạy b n với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định nhanh chóng kết hợp với việc thiếu luan.lai download by : skknchat@gmail.lai 10 nghiên cứu tình hình thị trường thường d n tới rủi ro cho DN khi các quyết định đưa ra thiếu tính chuẩn xác. Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế một bộ phận lãnh đạo DNNVV ít được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp và quản trị kinh doanh.
Trình độ chuyên môn của người điều hành thấp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạch định chiến lược kinh doanh và quản trị nội bộ, nhất là quản trị tài chính của DNNVV d n đến việc cân đối vốn và sử dụng vốn không hiệu quả, bố trí và sử dụng các nguồn lực tài chính đạt hiệu quả thấp. Bên cạnh đó, một bộ phận lãnh đạo DNNVV có ý thức chấp hành chế độ, chính sách, quy định,. Đây là điểm yếu lớn nhất ảnh hưởng nhiều đến quá trình hoạt động SXKD, huy động vốn hay tiếp cận vốn TDNH của DNNVV. Bảy là, hoạt động của DNNVV thiếu vững chắc.
DNNVV dễ dàng rơi vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, cùng với sự phá sản lại có việc thành lập các DN mới và số DNNVV được thành lập mới thường lớn hơn số bị phá sản. Chính điều đó đã không d n đến tình trạng xáo động nền kinh tế - xã hội và cũng chính hiện tượng đó đã phản ánh sức sống mãnh liệt của DNNVV nói chung trong nền kinh tế. Ngoài ra, khả năng sản xuất hàng hóa để phục vụ cho xuất khẩu của DNNVV còn hạn chế do chất lượng sản phẩm chưa cao còn có hiện tượng trốn thuế, lậu thuế hiện tượng chạy theo lợi nhuận quá mức mà không chú ý đến hậu quả xã hội phải gánh chịu.
Vai trò của DNNVV Nếu x t riêng từng DN, DNNVV không có được lợi thế về mặt kinh tế so với các DN lớn.