SAP2000 1 Đại cương về phương pháp phần tử hữu hạn 1. Khái niệm về phương pháp Phần tử hữu hạn Phương pháp phần tử hữu hạn (Finite Element Method – FEM) là một phương pháp số đặc biệt có hiệu quả để tìm dạng gần đúng của một ẩn hàm chưa biết trong miền xác định V của nó. Tuy nhiên, FEM không tìm dạng xấp xỉ của ẩn hàm trên toàn miền V của kết cấu mà chỉ tìm trong từng miền con Ve. Chính vì vậy mà FEM có thể áp dụng cho rất nhiều bài toán kỹ thuật và nhất là đối với bài toán kết cấu, trong đó ẩn hàm cần tìm có thể được xác Hình H-1.2 – Mô hình phần tử hữu hạn của hệ dàn không gian định trên các miền phức tạp với nhiều điều kiện biên khác nhau.
Như vậy, đối với FEM miền tính toán V được thay thế bởi một số hữu hạn các miền con Ve được gọi là phần tử. Các phần tử này chỉ được nối với nhau bởi các điểm định trước trên biên gọi là nút. Trong phạm vị mỗi phần tử, đại lượng cần tìm được xấp xỉ theo một dạng phân bố xác định nào đó. Các hệ số của hàm xấp xỉ được gọi là các tham số hay các tọa độ tổng quát.
Các tham số này lại được biểu diễn qua giá trị của hàm (và có thể cả đạo hàm của nó) tại vị trí các điểm nút trên phần tử. Các giá trị tại nút được gọi là bậc tự do của phần tử và được xem là các ẩn số cần tìm của bài toán. Như vậy các hệ số của hàm xấp xỉ có ý nghĩa vật lý xác định, do vậy nó rất dễ thỏa mãn điều kiện biên của bài toán. Đây cũng chính là ưu điểm nổi bật của FEM so với các phương pháp khác.
Để có thể nghiên cứu cụ thể FEM, ta cần thống nhất một số ký hiệu và làm quen với các khái niệm sau: + Phần tử (element) là các miền con thuộc miền V của trên cấu. Do yêu cầu của phương pháp, miền V phải được rời rạc hóa thành các phần tử. + Nút (node hay joint) là các điểm định trước trên biên phần tử mà thông qua các nút này mà các phần tử được nối với nhau tạo thành một miền liên tục.vn 1 SAP2000 + Hàm xấp xỉ (approximation function) biễu diễn dạng phân bố của ẩn hàm cần tìm theo một quy luật nào đó trong phạm vi từng phần tử. + Vectơ chuyển vị nút phần tử {q}e (hay vectơ bậc tự do của phần tử) chính là tập hợp tất các bậc tự do của các nút thuộc về phần tử đó.
+ Vectơ chuyển vị nút kết cấu {q} (hay vectơ chuyển vị nút tổng thể) chính là tập hợp tất cả các bậc tự do của tất cả các nút trong kết cấu. + Vectơ các tham số {a} (hay vectơ các tọa độ tổng quát) là các tham số của hàm xấp xỉ. Theo FEM, các tham số này sẽ không được tính trực tiếp mà sẽ được biểu diễn qua vectơ chuyển vị nút của phần tử. + Các khái niệm hàm dạng [N ] (shape function), ma trận độ cứng [K ] (stiffness matrix), vectơ tải {P} (load vector)… sẽ được trình bày khi thành lập các phương trình cơ bản của FEM.
Tùy theo ý nghĩa của hàm xấp xỉ trong bài toán kết cấu, người ta chia làm 3 mô hình sau đây: (i) Mô hình tương thích biểu diễn dạng phân bố của chuyển vị trong phần tử. Ẩn số là các chuyển vị và đạo hàm của nó được xác định từ hệ phương trình được thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Lagrange hay nguyên lý thế năng toàn phần dừng. (ii) Mô hình cân bằng biễu diễn dạng gần đúng của ứng suất hoặc nội lực bên trong phần tử. Ẩn số là các lực tại nút đựơc xác định từ hệ phương trình thiết lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Castigliano hay nguyên lý năng lượng hệ toàn phần dừng.
(iii) Mô hình hỗn hợp biểu diễn gần đúng dạng phân bố của cả chuyển vị và ứng suất trong phần tử. Coi chuyển vị và ứng suất là hai yếu tố độc lập riêng biệt. Ẩn số được xác định từ hệ phương trình thành lập trên cơ sở nguyên lý biến phân Reisner-Helinge. Trong ba mô hình trên thì mô hình tương thích được dùng rộng rãi hơn cả.
Hai mô hình còn lại chỉ sử dụng hiệu quả trong một số bài toán. Phần mềm SAP2000 sử dụng mô hình tương thích để phân tích kết cấu. Hàm xấp xỉ 1. Lựa chọn hàm xấp xỉ Như đã trình bày ở trên, các ẩn hàm cần tìm được xấp xỉ hóa trên mỗi phần tử.
Như vậy việc lựa chọn hàm xấp xỉ phải mô tả gần đúng đại lượng cần tìm trong phạm vi mỗi phần tử. Thông thường hàm xấp xỉ hay được chọn ở dạng đa thức. Hàm xấp xỉ cũng có thể sử dụng dạng lượng giác. Ưu điểm của hàm xấp xỉ dạng đa thức: + Đa thức khi được xem là tổ hợp tuyến tính các đơn thức thì tập hợp các đơn thức thỏa mãn yêu cầu độc lập tuyến tính.
+ Hàm xấp xỉ dạng đa thức thường dễ tính toán đạo hàm và tích phân. + Có khả năng tăng độ chính xác bằng cách tăng số bậc của đa thức xấp xỉ. Ví dụ: Trong bài toán 1-D, hàm xấp xỉ được chọn dưới dạng đa thức như sau: u (x ) = a 1 + a 2 x (xấp xỉ tuyến tính) u (x ) = a 1 + a 2 x + a 3 x 2 (xấp xỉ bậc 2) Email: binh.1) [P( x, y, z)] được gọi là ma trận các đơn thức. {a} được gọi là vectơ các tham số (hay vectơ tọa độ tổng quát).2 Chọn bậc của đa thức xấp xỉ Về nguyên tắc, nếu chọn bậc của đa thức xấp xỉ càng cao thì kết quả xấp xỉ càng chính xác.
Tuy nhiên, đa thức được chọn phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây: (i) Các đa thức xấp xỉ phải thỏa mãn điều kiện hội tụ, tức là: + Liên tục trong phạm vi phần tử. Điều này đương nhiên thỏa mãn nếu chọn hàm xấp xỉ ở dạng đa thức. + Bảo đảm tồn tại trạng thái đơn vị trong phần tử và các đạo hàm riêng của nó đến bậc cao nhất mà phiếm hàm I(u) đòi hỏi (Xem lại phương pháp biến phân của Lý thuyết đàn hồi). Đối với xấp xỉ của bài toán 1-D thì yêu cầu này tự nhiên thỏa mãn.vn 3 SAP2000 Hình H-1.2 – (a) Tam giác Pascal - (b) Tháp Pascal Thí dụ: Với bài toán 2-D, muốn dùng hàm xấp xỉ đến bậc 2, ta sẽ lấy các số hạng đến tầng thứ 2 của tam giác Pascal, khi đó hàm xấp xỉ sẽ là: u ( x, y) = a 1 + a 2 x + a 3 y + a 4 x 2 + a 5 y 2 + a 6 xy Với bài toán 3-D, hàm xấp xỉ bậc 2 sẽ được lấy đến tầng thứ 2 của tháp Pascal: u ( x, y, z) = a 1 + a 2 x + a 3 y + a 4 z + a 5 x 2 + a 6 y 2 + a 7 z 2 + a 8 xy + a 9 zy + a 10 xz (c) Số tham số trong vectơ {a} phải bằng số bậc tự do của phần tử {q}e : + Yêu cầu này cần được đảm bảo, như thế mới có thể nội suy đa thức xấp xỉ theo giá trị đại lượng cần tìm tại các điểm nút.
Muốn tăng bậc của đa thức xấp xỉ lên, ta cũng phải tăng số bậc tự do của phần tử lên, ta sẽ có được các phần tử bậc cao. Hàm dạng Vectơ các bậc tự do {q}e của phần tử (hay vectơ chuyển vị nút phần tử) là tập hợp tất cả các bậc tự do của các nút trên phần tử. Các bậc tự do này chính là ẩn số cần tìm của bài toán khi phân tích theo phương pháp phần tử hữu hạn. Sau khi lựa chọn hàm xấp xỉ, chúng ta phải biểu diễn các đa thức xấp xỉ theo vectơ chuyển vị nút phần tử {q}e.
Ta nói rằng, các đa thức này được nội suy theo {q}e. Thực chất là ta phải đảm bảo rằng giá trị của đa thức xấp xỉ (hay đạo hàm của nó) tại các điểm nút thuộc phần tử phải đồng nhất bằng bậc tự do của phần tử. Hay nói cách khác, nếu ta thay thế tọa độ các điểm nút trên phần tử vào trong hàm xấp xỉ thì phải cho giá trị đúng bằng chuyển vị nút. Trong trường hợp tổng quát, nếu phần tử có r nút, ta có: ⎧u (node 1) ⎫ ⎪u (node 2)⎪ ⎪ ⎪ ⎨ ⎬ ≡ {q}e ⎪ .vn 4 SAP2000 Ta thay tọa độ các nút vào các đa thức xấp xỉ, thực hiện đồng nhất và biểu diễn theo (1.
⎪ ⎪⎩u (node r ) ⎪⎭ ⎩⎪u ( x r , y r , z r ) ⎪⎭ ⎪⎩[P( x r , y r , z r )] ⎪⎭ Trong đó [A ] là ma trận vuông kích thước bằng số bậc tự do của phần tử và chỉ chứa tọa độ các điểm nút của phần tử.5) được gọi là ma trận các hàm nội suy hoặc ma trận các hàm dạng. Thực chất là ma trận [N ] dùng để biểu diễn các hàm xấp xỉ theo vectơ chuyển vị nút phần tử {q}e hay nội suy theo {q}e. Nhìn vào biểu thức (1.4), có thể thấy, chuyển vị của các điểm bên trong phần tử được tính theo các chuyển vị nút của phần tử bằng ma trận các hàm dạng [N ]. Đối với bài toán kết cấu, các thành phần của ma trận [N ] biểu diễn dạng phân bố của chuyển vị trong phần tử ứng với các chuyển vị nút bằng đơn vị.
Thí dụ 1-1: Tìm ma trận các hàm dạng của phần tử thanh chịu kéo (nén) dọc trục có 2 nút (hình H-1. Do thanh chỉ chịu kéo (nén) nên mỗi nút chỉ có một bậc tự do là chuyển vị theo phương chịu kéo (nén). Do vậy vectơ chuyển vị nút sẽ là: {q}e = {q1 , q 2 }Te = {u i , u j }T Hình H-1.