CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN FEM 1. Khái niệm phần tử hữu hạn: Hình 1. 1 Mô tả phần tử hữu hạn Phương pháp PTHH (Finite Element Method) được phát triển đầu tiên bởi Alexander Hrennikoff (1941) và Richard Courant (1943). Phương pháp PTHH là một phương pháp số đặc biệt hiệu quả dựa trên ý tưởng là chia một vật thể phức tạp thành các phần tử nhỏ và đơn giản.
TRẦN THANH HẢI 9 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN Theo phương pháp PTHH, một miền V được chia thành một số hữu hạn các miền con Ve gọi là phần tử (element). Các phần tử này được kết nối với nhau tại các điểm định trước trên biên phần tử, gọi là nút (node). Trong phạm vi mỗi phần tử, đại lượng cần tìm được lấy xấp xỉ dưới dạng một hàm đơn giản gọi là hàm xấp xỉ (approximation fuction). Các hàm xấp xỉ này được biểu diễn qua các giá trị hàm (hoặc cả giá trị của đạo hàm của nó) tại các điểm nút trên phần tử.
Các giá trị này gọi là các bậc tự do của các phần tử và là các đại lượng cần tìm của bài toán. Như vậy, phương pháp PTHH không tìm dạng xấp xỉ của hàm cần tìm trên toàn bộ miền V mà chỉ trong từng miền con Ve của nó. Do đó phương pháp này thích hợp với hàng loạt bài toán vật lý và kỹ thuật trong đó các hàm cần tìm được xác định trên những miền phức tạp gồm nhiều miền nhỏ có đặc tính hình học hay vật lý khác nhau, chịu những điều kiện biên khác nhau. Ưu nhược điểm của phương pháp phần tử hữu hạn: 1.
Ưu điểm: + Ứng dụng được cho rất nhiều bài toán kỹ thuật phức tạp (dễ dàng công thức hoá sau đó số hoá các bài toán kỹ thuật) + Có thể giải được các bài toán phi tuyến + Các bước giải được hệ thống hoá một cách rõ ràng nên ứng dụng rất rộng rãi + Nếu việc tính toán mô phỏng được thực hiện tốt thì kết quả đạt được đáng tin cậy 1. Nhươc điểm: + Kết quả tìm được là xấp xỉ + Kết quả phụ thuộc vào dạng phần tử và mật độ đựơc chọn tức là phụ thuộc vào trình độ và kinh nghiệm người giải 1. Khắc phục nhược điểm: + Tính toán lại bằng tay (nếu có thể) + Dùng thí nghiệm kiểm chứng lại 1. Lịch sử phát triển: GVHD: THS.
TRẦN THANH HẢI 10 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN + A. Hrennikoff [1941] - Lattice of 1D bars + McHenry [1943] - Model 3D solids + R. Courant [1943] - Variational form + Levy [1947, 1953] - Flexibility & Stiffness + M. Turner [1953] - FEM computations on a wing + Boeing [1950's] Engineer's at Boeing apply FEM to delta wings + Argryis and Kelsey [1954] - Energy Prin.
for Matrix Methods + Turner, Clough, Martin and Topp [1956] - 2D elements + R. Clough [1960] – Coins the term “Finite Elements” + 1963 - Mathematical validity of method established - applied to non-structural problems + 1960's - First general purpose FEA code developed + 1970's - Non-linear solvers developed + 1980's - Graphical pre-/postprocessors are developed + 1990's - FEM tools integrated in CAD software 1. Phân tích bài toán theo phương pháp phần tử hữu hạn (FEM): 1. Một số bài toán sử dụng trong bài toán phần tử hữu hạn: a.
Hàm xấp xỉ ( approximation function): Biểu diễn dạng phân bố của ẩn hàm cần tìm theo một quy luật nào đó trong phạm vi từng phần tử. Như vậy các ẩn hàm cần tìm được xấp xỉ hóa trên mỗi phần tử. Như vậy việc lựa chọn hàm xấp xỉ phải mô tả gần đúng đại lượng cần tìm trong phạm vi mỗi phần tử. Thông thường hàm xấp xỉ hay được chọn ở dạng đa thức.
Dạng đa thức xấp xỉ: Như đã nói ở trên, hàm xấp xỉ được chọn dưới dạng đa thức đơn giản. Có thể như sau : Bài toán 1 – D (một chiều): u ( x) = a 1 + a 2 x (xấp xỉ tuyến tính) u ( x) = a 1 + a 2 x + a 3 x2 (xấp xỉ bậc hai) GVHD: THS. TRẦN THANH HẢI 11 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN u ( x) = a 1 + a 2 x + a 3 x2 + a 4 x3 (xấp xỉ bậc 3) n +1 Hay nếu lấy u ( x) là một hàm xấp xỉ bậc n thì: u ( x) = ∑ ai. an +1 Hay: u ( x) = [ P( x)]{a} Trong đó: [P (x)] gọi là ma trận các đơn thức.
{a} gọi là vector các tọa độ tổng quát hay vector các tham số. a6 u ( x) = [ P( x) ]{a} Bài toán 3 – D (ba chiều) U(x,y,z)=[P(x,y,z)]{a} [P(x,y,z)] được chọn là các ma trận đơn thức. {a} được gọi là vecto các tham số ( hay vecto tọa độ tổng quát). Chọn bậc của đa thức xấp xỉ hay hàm xấp xỉ Về nguyên tắc nếu chọn bậc đa thức xấp xỉ càng cao thì kết quả xấp xỉ càng chính xác.
Tuy nhiên, đa thức được chọn phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây : Các đa thức xấp xỉ phải thỏa mãn điều kiện hội tụ: Liên tục trong phạm vi phần tử. TRẦN THANH HẢI 12 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN Đảm bảo được rằng khi kích thước phần tử giảm đi thì kết quả sẽ hội tụ đến nghiệm chính xác. Các đa thức xấp xỉ được chọn sao cho không làm mất tính đẳng hướng hình học. Để đáp ứng yêu cầu này, ta có thể chọn dạng đa thức từ tam giác Pascal ( bài toán 2- D) hay từ tháp Pascal (bài toán 3- D).
Đối với xấp xỉ của bài toán 1- D thì yêu cầu này tự nhiên thỏa mãn. Phép nội suy: Tuy nhiên, trong phương pháp PTHH các hệ số của hàm xấp xỉ dạng đa thức được biểu diễn qua chính các giá trị của nó (hoặc cả giá trị các đạo hàm) tại một số điểm nút được định trước trên phần tử. Nói cách khác là hàm xấp xỉ được nội suy theo các giá trị ( hoặc cả các đạo hàm) của nó tại các nút phần tử. Kết quả là, trong phạm vi mỗi phần tử đại lượng cần tìm là hàm bất kì sẽ được xấp xỉ hóa bằng một đa thức nội suy qua các giá trị (hoặc cả các đạo hàm) của nó tại điểm nút của phần tử.
TRẦN THANH HẢI 13 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN Hình 1. Dạng nội suy của các hàm xấp xỉ theo phương pháp Lagrange Trong các ví dụ trên các hàm bất kì được biểu diễn xấp xỉ bằng các đa thức bậc 0, bậc 1, bậc 2 theo các giá trị (chỉ theo giá trị) của hàm tại điểm định trước (điểm nút). Phép xấp xỉ này được gọi là phép nội suy Lagrange. (Nội suy Hecmit : Khác với phép nội suy Lagrange, nội suy Hecmit là phép xấp xỉ theo giá trị và cả đạo hàm từ bậc 1 đến bậc nào đó tại các điểm cơ sở.
Hàm nội suy Hecmit Bằng việc xấp xỉ hóa đại lượng cần tìm trong phạm vi mỗi phần tử thì trên toàn miền V khảo sát, đại lượng cần tìm cũng được biểu diễn gần đúng theo các giá trị (và có thể cả đạo hàm đến cấp nào đó) của chính nó tại các điểm nút. TRẦN THANH HẢI 14 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN Và rõ ràng nếu lưới phần tử càng mịn thì kết quả nhận được càng tiến đến sự mô tả chính xác của nghiệm cần tìm. Ví dụ : Với phép nội suy Lagrange Hình 1. Hàm nội suy Lagrange khi lưới phần tử mịn d.
Ghép nối phần tử - ma trận cứng và véc tơ tải tổng thể: Giả sử vật thể (miền V) được chia thành N e phần tử (miền con V e ) bởi R điểm nút. Nếu mỗi nút có s bậc tự do thì số bậc tự do của cả hệ là n = R.s Gọi {q} là véc tơ chuyển vị nút tổng thể (hay véc tơ chuyển vị nút kết cấu). − Nó sẽ là tập hợp của tất cả các bậc tự do của tất cả các nút của hệ và gồm n thành phần. Giả sử mỗi phần tử có r nút, thì số bậc tự do của r nút của phần tử gồm n e = r.
Và véc tơ chuyển vị nút phần tử {q e } gồm tất cả các bậc tự do của r nút của phần tử tức là gồm n e thành phần. Rõ ràng theo mô hình tương thích, các thành phần này của {q e } là nằm trong số các thành phần của {q}. Và do đó sự liên hệ giữa 2 véc tơ này có thể được biểu diễn như − sau: _ {qe } = [ L ]e. Ma trận này cho − thấy hình ảnh sắp xếp các thành phần của véc tơ {q e } trong {q}.
TRẦN THANH HẢI 15 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN − Ví dụ: Dầm với bốn điểm nút như hình 1.6 có véc tơ chuyển vị nút tổng thể {q} là: _ {q} = {q1 , q2 , q3 ,. Các bậc tự do của dầm 4 nút q1 10000000 q1 q 01000000 q 2 _ 2 = {q}1 = [ L ]= 1{q} q3 00100000 . Trình tự phân tích bài toán theo phương pháp phần tử hữu hạn Bước 1 - Rời rạc hoá miền khảo sát (chia lưới vật thể): Miền khảo sát V được chia thành các miền con Ve tức là các phần tử. Các phần tử này có hình dạng thích hợp.
Các phần tử thường có dạng hình học đơn giản. Ví dụ như: GVHD: THS. TRẦN THANH HẢI 16 SVTH: NGUYỄN TIẾN ĐẠT TRẦN CHIẾN THẮNG TRƯỜNG ĐH GTVT CƠ SỞ II ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA CƠ KHÍ SINH VIÊN Bước 2 - Chọn hàm xấp xỉ: Vì đại lượng cần tìm chưa biết nên ta chọn dạng hàm xấp xỉ của nó sao cho đơn giản đối với tính toán nhưng phải thoả mãn các tiêu chuẩn hội tụ. Ta thường chọn hàm xấp xỉ dạng đa thức.