đặt vấn đề nêu trên, nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là nghiên cứu và tìm hiểu về tính kinh tế của phương pháp phát điện Từ thủy động lực học, chủ yếu gồm các vấn đề sau: - Tìm hiểu nguyên lý phát điện Từ thủy động lực học. - Khảo sát chu trình phát điện Từ thủy động lực học. - Phân tích đặc tính kinh tế-kỹ thuật của phát điện Từ thủy động lực. HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 2 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên - Xây dựng các phương pháp tính toán tiết kiệm chi phí của nhà máy nhiệt điện có kết hợp từ thủy động lực, dựa trên các chi phí đầu tư, vận hành, bảo trì, sửa chữa, đưa ra chi phí phát điện.4 Phạm vi nghiên cứu - Tìm hiểu các nguyên lý hoạt động (MHD) và chu trình phát điện (MHD) kết hợp tuabin khí và tuabin hơi.
- Tìm hiểu cách tính chi phí phát điện hiện nay trên thế giới. - Thiết lập quan hệ chi phí năng lượng đầu ra theo chi phí năng lượng nhiên liệu vào của máy phát từ thủy động lực. - Tính toán tiết kiệm chi phí đầu tư và lợi nhuận của nhà máy nhiệt điện có kết hợp từ thủy động lực theo giá thành phát điện của nhà máy nhiệt điện cụ thể. - Nhận xét và kết luận.1 Giới hạn đề tài - Nghiên cứu nguyên lý phát điện của từ thủy động lực học.
- Nghiên cứu Chu trình phát điện từ thủy động lực học và chất lỏng hoạt động. - Phân tích chu trình từ thủy động lực học. - Ưu điểm và nhược điểm của hệ thống từ thủy động lực học. - Quan hệ chi phí đầu tư, vận hành, chi phí nhiên liệu đầu vào với giá thành năng lượng đầu ra của nhà máy nhiệt điện có kết hợp từ thủy động lực.
- Nhiên liệu sử dụng là than đá. - Chưa đi sâu nghiên cứu công nghệ hiệu ứng lò của MHD và giá thành tương ứng với 10MW đến 50MW. - Chưa phân tích giá trị tiền tệ theo thời gian của vốn đầu tư, thay đổi giá điện đầu ra, khâu hao của nhà máy, phân tích lợi nhuận sau thuế. - Lợi nhuận được phân tích dựa trên sự biến thiên của các biến được xét riêng lẻ mà không xem đến sự biến thiên đồng thời của các biến.
HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 3 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên 1.5 Phương pháp nghiên cứu - Thu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Nghiên cứu về máy phát từ thủy động lực và các phương pháp tính toán tiết kiệm chi phí điện năng. - Do lĩnh vực này ở nước ta còn rất mới nên người thực hiện luận văn không có điều kiện thực nghiệm mà chỉ khảo sát trên mô hình toán, từ đó phân tích các kết quả nhận được và các kiến nghị. - Phân tích các kết quả nhận được và các kiến nghị.
- Đánh giá tổng quát toàn bộ bản đề tài. Đề nghị hướng phát triển của đề tài.6 Kết quả dự kiến và giá trị thực tiễn - Phân tích được ưu khuyết điểm về kinh tế - kỹ thuật của các phương pháp phát điện Từ thủy động lực. - Xác định chi phí cho từng phương pháp phát điện từ thủy động lực trong từng trường hợp cụ thể. - Ứng dụng rộng rãi việc sử dụng cùng lúc ba loại máy phát điện trong cùng một nhà máy, nâng cao hiệu suất phát điện và tiết kiệm chi phí điện năng.
- Giúp các nhà hoạch định chiến lược về nguồn năng lượng quốc gia có thêm một hướng mới về việc phát triển nguồn năng lượng trong tương lai. - Sử dụng làm tài liệu giảng dạy. HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 4 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Nguyên lý làm việc của máy phát điện MHD Máy phát điện từ thủy động lực (hay máy phát MHD) là hệ thống chuyển nhiệt năng hay động năng trực tiếp thành điện năng, dựa trên các nguyên lý từ thủy động học. Chúng thường có khả năng làm việc ở nhiệt độ cao và không cần có các chi tiết phải bôi trơn.
Khí thải của các hệ thống như vậy thường là các plasma nóng có thể tái sử dụng để cung cấp nhiệt cho hệ thống nhiệt điện truyền thống. Trong các máy phát điện MHD, chuyển động của dòng chất lỏng dẫn điện hoặc plasma được sử dụng để tạo ra dòng điện. Máy phát điện MHD hoạt động theo định luật Lorentz: Đặt bàn tay trái duỗi thẳng để các đường cảm ứng từ xuyên vào lòng bàn tay,chiều từ cổ tay đến ngón tay trùng với chiều vận tóc của hạt, khi đó ngón tay cái choãi ra chỉ chiều của lực Lorentz nếucc hạt mang điện tích dương, và chỉ chiều ngược lại hạt mang điện tích âm. Trong đó: 𝐹𝐿 là lực Lorentz (N); |𝑞| là độ lớn điện tích (C); v là vận tốc hạt mang điện (m/s); B là cảm ứng từ (T).
Theo quy tắc nhân có hướng các véctơ, F vuông góc với cả v và B, và tuân theo quy tắc bàn tay phải. Lực này sẽ dẫn hướng các điện từ chuyển động trong lưu chất dẫn điện đến các điện cực đặt ở vị trí thích hợp trong dòng chảy nằm trong từ HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 5 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên trường và các điện cực sẽ tạo ra điện năng. Một máy phát điện MHD hoạt động theo nguyên lý cơ bản: Định luật Faraday và quy tắc bàn tay phải.2: Nguyên lý của máy phát MHD Máy phát từ thủy động lực học chu trình mở vận hành với nhiên liệu hóa thạch đốt cho qua hệ thống MHD sau đó kết hợp với tuabin hơi được vận hành thử nghiệm vào khoảng năm 1965. Máy phát MHD chu trình kín thường thường sử dụng nhiên liệu từ lò hạt nhân, nhưng có khi cũng dùng nhiên liệu hóa thạch.
Chất dẫn điện trong MHD có thể là khí hoặc kim loại lỏng có nhiệt độ làm việc thông thường khoảng 30000K trong khi đối với tuabin hơi nhiệt độ giới hạn khoảng 8500K và với các máy phát tuabin hơi hiệu suất đạt dưới 42%. Đối với các máy phát MHD không có bộ phận chuyển động quay nên có thể nâng nhiệt độ lên cao nên cho hiệu suất cao hơn. Hiệu suất của chu trình kết hợp có thể được xác định bởi biểu thức (2.1) Trong đó: 𝜂1 là hiệu suất của máy phát MHD và 𝜂2 là hiệu suất của turbin hơi. Quá trình thực hiện là sử dụng từ trường mạnh để tạo ra điện trường với luồng chất lỏng dẫn điện đi xuyên qua một kênh và dòng electron gây ra bởi điện trường tạo ra dòng điện có vector mật độ dòng J.
Các điện cực phía đối diện thành lò MHD tiếp xúc với chất lỏng dẫn điện được nối với mạch điện bên ngoài. Các electron từ HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 6 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên chất lỏng theo điện cực từ một phía vách lò đến tải bên ngoài và đến điện cực phía đối điện trở về khối chất lỏng tạo thành dòng điện kín. Như vậy, nhận thấy hai điện cực cung cấp cho tải bên ngoài dòng điện một chiều, có thể nối với bộ nghịch lưu để trở thành dòng điện xoay chiều. Các máy phát điện này thường hoạt động theo chu trình Brayton, và có hiệu suất tương đương với chu trình Carnot trong điều kiện lý tưởng.
Hiệu suất này phụ thuộc vào chênh lệch nhiệt độ giữa nguồn nóng và nguồn lạnh, và các máy phát từ thủy động lực có thể hoạt động ở nhiệt độ nguồn nóng rất cao. Các phương trình cơ bản của máy phát MHD: Phương trình động lực học: 𝑑𝑢 𝑑𝑝 𝜌𝑢 ( ) + ( ) + 𝐽𝐵 = 0 (2.2) 𝑑𝑥 𝑑𝑥 Phương trình năng lượng: 𝑑 1 𝜌𝑢 (ℎ + 𝑢2 ) + 𝐽𝐸 = 0 (2.3) 𝑑𝑥 2 Phương trình tính liên tục: 𝜌𝑢𝐴 = 𝑚 = 𝑐𝑜𝑛𝑠𝑡𝑎𝑛𝑡 (2.4) Mật độ dòng được đưa ra bởi định luật Ohm khi áp dụng cho một máy phát MHD: J= 𝜎(−𝐸 + 𝑢𝐵) [𝐴/𝑚2 ] (2.5) Trong đó: u là vận tốc, ρ là mật độ dòng khí, p là áp suất, h là chiều cao, E là cường độ điện trường.2 Các loại máy phát điện MHD Dựa vào nguyên lý Từ thủy động lực, người ta có thể chia máy phát điện MHD ra thành nhiều loại khác nhau tùy theo dạng điện cực như hình 2. Trong loại máy phát điện Faraday, từ trường được đặt vuông góc với dòng chảy của chất lỏng dẫn điện. Dưới tác động của lực Lorentz, các điện tích sẽ được tích tụ trên các thành ống dẫn, vuông góc với từ trường và chiều dòng chảy.
Tại thành ống, có thể đặt các điện cực để thu những điện tích này. Công suất của máy phát tỷ lệ với thiết diện ống dẫn và tốc độ chảy. Khi điện năng được gặt hái, dòng chảy sẽ chảy chậm lại và nguội đi. HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 7 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.TS Lê Chí Kiên Thông thường nhiệt độ của dòng chảy sau khi đi qua máy phát điện sẽ bị giảm từ nhiệt độ plasma xuống khoảng 1000K.
Nhược điểm của máy phát điện loại Faraday là hiệu suất không cao, do thất thoát điện năng trên các điện cực, đặc biệt là thất thoát do hiệu ứng Hall. Do đó người ta chế tạo ra máy phát điện loại Hall.3: Các loại máy phát điện MHD với (a) là loại Faraday điện cực liên tục, (b) là loại Faraday điện cực phân đoạn, (c) là loại Hall và (d) là loại điện cực chéo Máy phát điện loại Hall sử dụng hiệu ứng Hall để tạo ra dòng điện cùng chiều với dòng khí chảy. Các dãy điện cực ngắn được đặt vuông góc với dòng chảy và với từ trường ngoài, dọc 2 bên dòng chảy. Điện cực ở đầu nguồn và điện cực ở cuối dòng chảy sẽ được nối ra mạch điện ngoài để cung cấp điện năng.
Mỗi điện cực còn lại được nối với một điện cực đối diện dọc theo dòng chảy, và dòng điện cảm ứng (theo nguyên lý của máy phát Faraday nêu trên, gọi là dòng điện Faraday) sẽ chạy trên các đoạn nối này, tạo nên từ trường rất mạnh trong dòng chảy, uốn dòng chảy chạy theo đường cong dọc theo ống. Thiết kế này có hiệu suất cao hơn máy phát Faraday, nhưng hiệu suất phụ thuộc nhiều vào tải bên ngoài. Máy phát loại điện cực chéo là loại kết hợp đặc tính của cả loại Faraday và loại Hall nên có thể cho hiệu suất cao và điện áp ra cao, tuy nhiên đặc tính này cũng còn tùy thuộc các thông số của chất khí đầu vào. Do vậy, khi thiết kế tối ưu hóa HVTH: Kim Thị Nguyệt Nhung 8 Luan van Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: PGS.