Chương 1 : Cơ sở lý thuyết Chương 2 : Chi phí sản xuất điện năng Chương 3 : Tính toán chi phí tiền điện của nhà máy nhiệt điện có kết hợp từ thủy động lực Chương 4 : Kết luận và hướng phát triển Học viên: Phan Minh Hiển trang 4 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Máy phát từ thủy động lực MHD hoạt động theo nguyên tắc: năng lượng từ trường + động năng của chất lưu chuyển động biến trực tiếp thành năng lượng điện nên hình thức phát điện MHD cũng được gọi là phát điện trực tiếp. Sự biến đổi năng lượng từ thủy động lực là một dạng khác của sự biến đổi năng lượng trực tiếp mà trong đó điện được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch mà không cần năng lượng cơ. Hiện nay phương pháp phát điện này đã và đang được nghiên cứu để có thể ứng dụng vào thương mại hóa.1 Sơ đồ khối phát điện từ thủy động lực.
Học viên: Phan Minh Hiển trang 5 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên Các lĩnh vực MHD được khởi xướng bởi Hannes Alfvén và nhờ chúng mà ông đã nhận được giải Nobel Vật lý vào năm 1970. Ý tưởng của MHD là từ trường có thể cảm ứng ra các dòng điện từ một chất lưu dẫn điện chuyển động, tác dụng lực lên chất lưu và cũng có thể thay đổi từ trường của chính nó. Tập hợp các phương trình mô tả MHD là sự kết hợp của các phương trình Navier- Stokes (của động học chất lỏng), các phương trình Maxwell (của điện từ) và định luật Ohm.
Cho dòng khí plasma được ion hóa đi xuyên qua từ trường, sẽ tạo các điện tích cảm ứng trên các điện cực. Nếu mạch ngoài của các điện cực được nối kín, ta sẽ thu được dòng điện cảm ứng. Ưu điểm của MHD là không có phần tử chuyển động, có thể nâng nhiệt độ lên cao để gia tăng hiệu suất của chu trình. Khí thải của MHD vẫn có thể được tiếp tục sử dụng để cấp nhiệt cho chu trình turbine hơi để nâng cao hiệu suất chung của hệ thống.2 Nguyên lý phát điện MHD Máy phát từ thủy động lực học chu trình mở vận hành với nhiên liệu hóa thạch đốt cho qua hệ thống MHD sau đó kết hợp với turbin hơi được vận hành thử nghiệm vào khoảng năm 1965.
Máy phát MHD chu trình kín thường thường sử dụng nhiên liệu từ lò hạt nhân, nhưng có khi cũng dùng nhiên liệu hóa thạch. Chất dẫn điện trong MHD có thể là khí hoặc kim loại lỏng có nhiệt độ làm việc thông thường khoảng 30000K trong khi đối với turbin hơi nhiệt độ giới hạn khoảng 8500K và với các máy phát turbin hơi hiệu suất đạt dưới 42%. Đối với các máy phát MHD không có bộ phận chuyển động quay nên có thể nâng nhiệt độ lên cao nên cho hiệu suất cao hơn. Hiệu suất của chu trình kết hợp có thể được biểu diễn như sau: net 1 2 1 1 Học viên: Phan Minh Hiển trang 6 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS.
Lê Chí Kiên Trong đó 1 là hiệu suất của máy phát MHD và 2 là hiệu suất của turbin hơi. Quá trình thực hiện là sử dụng từ trường mạnh để tạo ra điện trường với luồng chất lỏng dẫn điện đi xuyên qua 1 kênh và dòng electron gây ra bởi điện trường tạo ra dòng điện có vector mật độ dòng J. Các điện cực phía đối diện thành lò MHD tiếp xúc với chất lỏng dẫn điện được nối với mạch điện bên ngoài. Các electron từ chất lỏng theo điện cực từ một phía vách lò đến tải bên ngoài và đến điện cực phía đối diện trở về khối chất lỏng tạo thành dòng điện kín.
Như vậy ta thấy hai điện cực cung cấp cho tải bên ngoài dòng điện một chiều, ta có thể nối với bộ nghịch lưu để trở thành dòng điện xoay chiều.2: Kênh phát điện MHD.3: Máy phát MHD đơn giản Đa số các khí thông thường không được ion hóa đáng kể ở nhiệt độ đốt của các nhiên liệu hóa thạch, vì vậy cần phải thêm nào khí một lượng nhỏ kim loại kiềm để tăng khả năng ion hóa. Kết quả là các ion và electron sinh ra trong khí nóng dẫn điện đủ để hoạt động trong từ trường. Học viên: Phan Minh Hiển trang 7 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên 1.3 Khí ion hóa trong điện trƣờng Trước khi phân tích kênh MHD, ta xét tóm tắt hoạt động của các electron trong khí ion hóa nằm trong trường điện từ.
Trong dòng khí tại điểm gần cân bằng thì các nguyên tử, ion và điện tử thường chuyển động bất định. Tại bất kỳ vị trí nào đó trong không gian tương ứng với 1 tốc độ thì tốc độ đó sẽ gia tăng theo sự gia tăng nhiệt độ. Xét một điện tử chuyển động tự do và không có va chạm trong điều kiện bình thường với từ trường chuẩn như hình bên dưới, các electron có một lực bằng qceB với q là điện tích electron và ce là độ lớn vận tốc. Do lực không thay đổi nên vận tốc không thay đổi theo các đường tròn quanh đường sức từ trường.
Theo định luật II Newton ta có lực trên electron là : F = (mece2)/r = qceB [N] (1.1) me: khối lượng electron ce: vận tốc electron r: bán kính quĩ đạo electron q: điện tích electron B: cảm ứng từ Tần số góc của các electron theo 1 đường sức từ gọi là tần số cyclotron và có giá trị là: ω = ce/r = qB/me [1/s] (1.2) Tần số cyclotron của điện tử không phụ thuộc vào tốc độ của điện tử và chỉ phụ thuộc vào cảm ứng từ và đặc tính của electron. Mặc dù các chuyển động cyclotron có thể bị phá vỡ bởi sự va chạm với những hạt khác. Học viên: Phan Minh Hiển trang 8 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên Hình 1.4: Chuyển động theo quỹ đạo tròn của electron trong từ trƣờng và lực Lorentz luôn hƣớng tâm Kết quả của sự va chạm giữa các hạt phụ thuộc vào kích thước hạt của chúng: các hạt lớn sẽ va chạm nhau thường xuyên hơn.
Xác suất của sự va chạm thể hiện khi xem xét mặt cắt Q của các hạt va chạm nhau. Tần số va chạm của các electron ωc do mật độ electron ne (số electron/m3), diện tích mặt cắt va chạm Q (m2) và tốc độ electron ce (m/s).3) ωc: Tần số va chạm của các electron. ne :mật độ electron Q: diện tích mặt cắt va chạm (m2) Với thời gian trung bình giữa các va chạm τ (s) là nghịch đảo của tần số va chạm. Tỷ số giữa tần số cyclotron và tần số va chạm ω/ωc là tham số HALL.
Tham số này thể hiện quan hệ quan trọng của từ trường và các va chạm của các electron chuyển động trong khí ion hóa. Tham số HALL là quan hệ với mật độ từ trường theo công thức sau: ω/ωc = ωτ = qB/nemeQce (1.4) Học viên: Phan Minh Hiển trang 9 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên Thông số thể hiện tương ứng giữa số lần quay gây ra với mỗi va chạm, thông số HALL thể hiện như sự chuyển động của các electron bị tác động bởi từ trường.5: Biểu đồ Vector của bơm MHD và lực điện sinh ra trong dòng ion Ít nhất 3 tốc độ quan trọng của khí dẫn điện trong kênh MHD là: Thứ nhất: tốc độ của dòng khí u (trường hợp này giả thuyết là không đổi). Thứ hai: tốc độ của những điện tử riêng biệt ce bình quân tăng theo nhiệt độ.
Khi trường điện từ mất đi thì tốc độ bình quân của ce cho tất cả các electron là tốc độ dòng khí u. Khi từ trường mạnh thì chuyển động của các electron liên quan đến khí và theo chuyển động này ta có thể xác định tính dẫn điện của dòng khí. Thứ ba: vận tốc tương đối của các electron we được xác định như là vector lệch của tốc độ tuyệt đối và tốc độ thực của chất lỏng: we = ce – u [m/s] (1.5) Tốc độ dịch chuyển we là độ lớn của tốc độ tương đối của các electron. Trong trường hợp không có các trường thì giá trị trung bình của ce là u và như vậy tốc độ dịch chuyển bằng không.
Khi có điện trường, sự vận chuyển của điện tích âm do các electron tạo nên dòng điện chạy trong khí. Học viên: Phan Minh Hiển trang 10 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS. Lê Chí Kiên Thông số quan trọng khác là sự di chuyển của các electron μ là do sự phản ứng của các electron đối với điện trường. Nó được định nghĩa là tỷ số của độ dời electron we với cường độ điện trường.6) Nếu giả thuyết rằng 1 electron mất tất cả vận tốc dời do va chạm, gia tốc của electron có thể xấp xỉ với tỷ lệ của vận tốc dời với thời gian giữa các va chạm.
Bởi vì lực điện trường qE, định luật Newton II cho phép vận tốc dời được biểu thị như sau: we = qEτ/me (1.7) Sự dịch chuyển của electron có thể được viết như sau: μ = qτ/me [m2/V-s] (1.8) Dùng phương trình (3.4), thì tích số μB trở thành thông số Hall: μB = qBτ/me = ωτ = ω/ωc [dl] (1.9) Như vậy thông số Hall là lớn với các khí mà độ di động electron cao trong từ trường mạnh. Đây là thông số có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu suất trong việc thiết kế MHD. Giả sử các electron là những hạt mang điện tích chủ yếu, mật độ dòng có thể cũng liên quan đến tính chuyển động qua tốc độ dời như sau: J = neqwe = neqτE/me J = μ neqE [A/m2] (1.10) Tính dẫn điện của một nơi cấp khí như sau: σ = J/E = μ neq [Ωm-1] (1.11) Như vậy tính di chuyển cao của electron và mật độ số electron là cần thiết để đạt được độ dẫn điện cao trong máy từ thủy động lực học. Học viên: Phan Minh Hiển trang 11 Luan van Đề tài – Cơ sở lý thuyết CBHD: TS.
Lê Chí Kiên 1.4 Phân tích máy phát MHD 1.1 Máy phát Faraday điện cực phân đoạn (segmented-electrode Faraday generator) Trong máy Faraday, từ trường được đặt vuông góc với dòng chảy của chất lỏng dẫn điện. Dưới tác động của lực Lorentz, các điện tích sẽ được tích tụ trên các thành ống dẫn, vuông góc với từ trường và chiều dòng chảy. Tại thành ống, có thể đặt các điện cực để thu những điện tích này. Công suất của máy phát tỷ lệ với thiết diện ống dẫn và tốc độ chảy.