CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Định nghĩa Dự án đầu tư xây dựng Theo Khoản 17-Điều 3 của Luật Xây dựng Việt Nam định nghĩa “ Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”.
Vì vậy, hiểu một cách đầy đủ thì dự án đầu tư xây dựng công trình là một tập hợp các đề xuất và biện pháp bỏ vốn để thực hiện một mục đích. Là một tổng thể các hoạt động xây dựng có liên quan với nhau để thực hiện một sản phẩm đã được định dạng là công trình xây dựng trong một khoảng thời gian nhất định và với một ngân sách nhất định.Và là một cơ chế phối hợp, hỗ trợ giữa các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án một cách có hiệu quả nhất; Trong quá trình thực hiện dự án có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau như: Chủ đầu tư, Tư vấn, Nhà thầu thi công xây dựng, Người quyết định đầu tư, Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng, tổ chức cấp phát hoặc cho vay vốn…Các chủ thể này phải được gắn kết với nhau về quyền và nghĩa vụ theo một số quy tắc nhất định. Phân loại dự án, phân loại và cấp công trình xây dựng Để có cơ sở thực hiện việc lập và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Luật Xây dựng quy định về việc phân loại dự án; phân loại và cấp công trình xây dựng thuộc dự án. Cụ thể là: 1.
Phân loại dự án và phân cấp quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng A- Phân loại theo quy mô và tính chất dự án: Việc phân loại dự án theo quy mô và tính chất dự án nhằm mục đích: phân cấp quản lý (Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ngành, UBND các tỉnh, thành phố); lựa chọn chủ đầu tư; chọn hình thức quản lý dự án; quyết định trình tự đầu tư và xây dựng (lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư, hay lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật); quyết định trình tự thiết kế (thiết kế 1 bước, thiết kế 2 bước, thiết kế 3 bước); quyết định thời hạn cấp vốn nếu là vốn ngân sách; quyết định điều khiển năng lực của cá nhân, tổ chức tham gia dự án; quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu (chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế, đấu thầu rộng rãi; quyết định thời hạn bảo hành của công trình; quyết định hình thức quản lý và sử dụng công trình. Ở Việt Nam, theo tính chất và quy mô của dự án phân thành các loại sau: - Dự án quan trọng quốc gia: Theo điều 2 Nghị quyết số 66/2006/NQ- QH11 ngày 29-06-2006 của Quốc Hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư quy định các dự án, công trình có 1 trong 5 tiêu chí sau đây là dự án, công trình quan trọng quốc gia: 1. Quy mô vốn đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên đối với dự án, công trình có sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên. Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Bao gồm: - Nhà máy điện hạt nhân. - Dự án sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất có rừng phòng hộ đầu nguồn từ 200ha trở lên, đất có rừng phòng hộ ven biển từ 500ha trở lên, đất có rừng đặc dụng (trừ đất có rừng là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên) từ 200ha trở lên, đất có rừng sản xuất từ 1000ha trở lên. Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác. Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hoá.
Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định. Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định sau: - Dự án nhóm A: Các dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng; các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ; hạ tầng công nghiệp, các loại dự án kể trên không kể mức vốn đầu tư. Ngoài ra còn có các dự án đầu tư xây dựng công trình có tổng mức đầu tư trên 500, trên 700 tỷ đồng, trên 1.000 tỷ đồng và trên 1.500 tỷ đồng, quy định theo từng loại dự án cụ thể. - Dự án nhóm B: Các dự án đầu tư xây dựng công trình có tổng mức đầu tư từ 15 ÷ 500tỷ đồng, từ 40 ÷ 700 tỷ đồng, từ 50 ÷1.000 tỷ đồng và từ 75 ÷ 1.500 tỷ đồng, quy định theo từng loại dự án.
- Dự án nhóm C: Các dự án đầu tư xây dựng công trình có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng, dưới 40 tỷ đồng, dưới 50 tỷ đồng và dưới 75 tỷ đồng, quy định theo từng loại dự án. 8 Đối với dự án do Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt Báo cáo đầu tư thì mỗi dự án thành phần được quản lý, thực hiện như một dự án độc lập. B- Phân loại dự án theo nguồn vốn đầu tư: Theo nguồn vốn đầu tư, các dự án được chia thành bốn loai: - Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước: Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhưng không quá 2 năm đối với dự án nhóm C, 4 năm đối với dự án nhóm B.
Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của Nghị đinh của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình và các quy định của pháp luật có liên quan. - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước: 9 Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doạnh nghiệp Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư.
Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của Nghị đinh của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình và các quy định của pháp luật có liên quan. - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn: Đối với dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án. Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn khác nhau (liên doanh, cổ phần,…) thì các bên góp vốn thoả thuận về phương thức quản lý hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ % lớn nhất trong tổng mức đầu tư (vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn tư nhân). Phân loại, cấp công trình xây dựng A- Phân loại công trình xây dựng Công trình, hạng mục công trình xây dựng thuộc dự án được phân theo 5 loại tuỳ thuộc vào công năng sử dụng, bao gồm: - Công trình dân dụng.
- Công trình công nghiệp. - Công trình nông nghiệp. - Công trình giao thông. - Công trình hạ tầng kỹ thuật.
B- Phân cấp công trình xây dựng Công trình, hạng mục công trình xây dựng thuộc dự án được phân chia theo các cấp công trình khác nhau tuỳ thuộc vào quy mô, yêu cầu kỹ thuật, vật liệu xây dựng sử dụng và tuổi thọ của công trình (quy định chi tiết trong Phụ 10 lục 1 – phân cấp, phân loại công trình được ban hành kèm theo của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ) bao gồm: - Công trình cấp đặc biệt. - Công trình cấp I. - Công trình cấp II. - Công trình cấp III.
- Công trình cấp IV. Khi cấp của công trình xây dựng được quy định bởi nhiều tiêu chí khác nhau thì cấp của công trình được xác định theo tiêu chí của cấp cao nhất. Như vậy, trong một dự án đầu tư xây dựng công trình có thể gồm một hoặc nhiều công trình, hạng mục công trình xây dựng có loại và cấp công trình khác nhau. Căn cứ vào loại dự án, loại và cấp công trình xây dựng để đề ra các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt dự án; để đăng ký, xét hạng năng lực khi lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng; xác định số bước thiết kế, thời hạn bảo hành công trình xây dựng… 1.
CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀ CÁC MỤC TIÊU QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG Ở Việt Nam cùng với sự phát triển các mục tiêu quản lý dự án, thì các chủ thể tham gia vào quản lý dự án cũng phát triển theo.