Chương 1: Giới thiệu chung HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 4 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt Chương 2: Tổng quan và hiện trạng vận hành nguồn điện năng lượng tái tạo tại Việt Nam, và tỉnh Bình Thuận Chương 3: Các giải pháp cải thiện vận hành nguồn điện năng lượng tái tạo Chương 4: Xây dựng lưới điện 110kV Tỉnh Bình Thuận Chương 5: Kết quả mô phỏng khi áp dụng một số giải pháp vận hành Chương 6: Kết luận và hướng phát triển đề tài HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 5 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VÀ HIỆN TRẠNG VẬN HÀNH NGUỒN ĐIỆN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM, VÀ TỈNH BÌNH THUẬN 2.1 Tình hình phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới, lượng gió và bức xạ mặt trời hàng năm lớn và được phân bố thành 3 vùng khu vực có những đặc điểm khác nhau về khí hậu: miền Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền Trung mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong khi miền Nam nằm trong vùng nhiệt đới xavan. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo mới như điện gió và điện mặt trời.
Năng lượng mặt trời ở Việt Nam được phân bố quanh năm, và khá ổn định, số giờ nắng trong năm trung bình từ 1.600 giờ, đặt biệt khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, các khu vực này có số giờ nắng hàng năm lên đến 2.600 giờ nắng/ năm, bức xạ khoảng 5Kwh/ngày rất thuận lợi để phát triển phát điện từ nguồn năng lượng mặt trời. Tiềm năng kỹ thuật điện mặt trời theo đánh giá của Viện Năng Lượng Việt Nam lên đến 386GW gồm điện mặt trời mặt đất và điện mặt trời nổi và 48 GW điện mặt trời mái nhà [1]. Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 Km trải dài từ Bắc đến Nam, khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi để phát triển điện gió gồm điện gió trên bờ, gần bờ và xa bờ. Tiềm năng kỹ thuật điện gió theo đánh giá của Viện Năng Lượng lên đến 217 GW gồm gần bờ và trên bờ tập trung ở các khu vực Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ, và tiềm năng gió xa bờ khoảng 160 GW tập trung ở các khu vực Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Ninh [1].
HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 6 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt Hình 2.1: Bản đồ phân bố bức xạ mặt trời tại Việt Nam [10].2: Bản đồ phân bố tốc độ gió trung bình năm ở độ cao 100 m ở VN [11] HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 7 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt Chính phủ Việt Nam đã có những định hướng để phát triển các nguồn năng lượng tái tạo qua các qui hoạch quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 đến 2020 có xét đến 2030 (qui hoạch điện VII), qui hoạch điện VII điều chỉnh, Nghị quyết 55-NQ/TW ngày 11/2/2020 của bộ chính trị với chủ trương là tăng tỉ lệ nguồn điện năng lượng tái tạo trong cơ cấu phát điện của Việt Nam cụ thể: QHĐ7 điều chỉnh: dự kiến nguồn điện năng lượng tái tạo mới sẽ chiếm 21% tổng công suất nguồn điện quốc gia năm 2030. Nghị quyết 55-NQ/TW: tỷ lệ điện năng của năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc là khoảng 30% năm 2030 và 40% năm 2045.
Để đạt những mục tiêu trên chính phủ đã có những chính sách khuyến khích cụ thể cho các nguồn năng lượng tái tạo khác nhau để phát triển với giá ưu đãi mua điện cố định trong 20 năm. Đối với nguồn năng lượng mặt trời: QĐ11, QĐ13 áp dụng giá ưa đãi cho điện mặt trời Đối với nguồn năng lượng điện gió: quyết định 37/2011/QĐ-TTg, quyết định 39/2018/QĐ-TTg, áp dụng giá cố định ưu đãi cho điện gió. Ngoài ra các nguồn năng lượng tái tạo khác: sinh khối, chất thải rắn,. cũng được chính phủ ban hành giá ưu đãi mua điện để khuyến khích phát triển.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện tại thì hai nguồn điện gió và mặt trời phát triển mạnh mẽ hơn cả sau khi ban hành các chính sách mua điện ưu đãi.1:Thống kê nguồn phát điện ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2020 [1] Nguồn Phát Đơn Vị 2010 2015 2019 2020 Thủy điện (bao gồm cả thủy MW 8.685 điện nhỏ) Nhiệt điện than MW 3.867 HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 8 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt Nhiệt điện khí + dầu MW 7.070 Điện gió MW 71 377 630 Điện mặt trời MW 4.700 Sinh khối MW 49 199 325 570 MW Thủy điện ( bao gồm cả thủy điện nhỏ) 25000 Nhiệt điện than Nhiệt điện khí + dầu Điện gió 20000 Điện mặt trời 15000 10000 5000 0 2010 2015 2019 2020 Hình 2.3: Biểu đồ công suất nguồn điện phân theo dạng năng lượng sơ cấp [1] Thủy điện ( bao gồm cả thủy điện nhỏ) 1% Nhiệt điện than 24% 30% Nhiệt điện khí + dầu 1% Điện gió 13% Điện mặt trời 31% Sinh khối Hình 2.4: Biểu đồ phần trăm cơ cấu nguồn điện sơ cấp năm 2020 [1] Điện mặt trời trước năm 2019, tiềm năng rất lớn nhưng hầu như không phát triển, chỉ được lắp đặt với qui mô tự dùng ở vùng xâu vùng xa, hải đảo. Tuy nhiên thời gian ngắn trong 2 năm 2019 – 2020 đã có 16,7 GW ĐMT được hòa vào lưới điện HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 9 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt quốc gia.
Qui hoạch điện VII điều chỉnh đề ra mục tiêu là đến hết năm 2020 có 850MW đưa vào vận hành, nhưng thực tế đến hết năm 2020 có nguồn điện mặt trời gần 20 lần. Điện gió cũng có bước phát triển đáng kể, năm 2015 chỉ có 71 MW, nhưng đến cuối năm 2020 đã lên đến 630 MW. Đến 31/10/2021 đã có 140 dự án đã ký hợp đồng mua bán điện (PPA) với điện lực Việt Nam (EVN) với công suất 8.171,475 MW, trong đó có đã vận hành thương mại trước ngày 01/11/2021 để kịp hưởng chính sách ưu đãi theo quyết định 39/2018/QĐ-TTg về giá mua điện từ EVN là 84 dự án với tổng công suất là 3.2:Thống kê tốc độ tăng trưởng các cơ cấu nguồn điện Việt Nam bình quân 5 năm [1]. Mục Đơn vị 2015 2020 Tổng công suất đặt %/ năm 14% 12% Thủy điện (bao gồm cả %/ năm 14% 5% thủy điện nhỏ) Nhiệt điện than %/ năm 27% 10% Nhiệt điện khí + Dầu %/ năm 2% 1% Năng lượng tái tạo %/ năm 41% 131% Trong đó: Gió %/ năm 55% Mặt trời (gồm cả áp mái) %/ năm Rất lớn Sinh khối %/ năm 32% 23% 2.2 Tình hình phát triển điện năng lượng tái tại Tỉnh Bình Thuận.
Tỉnh Bình Thuận nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, lại ở vị trí địa lý có độ cao mặt trời lớn (500l8' - 87058') và ngày dài (11 – 13 giờ), Bình Thuận được thừa hưởng chế độ bức xạ mặt trời dồi dào. Theo Đề tài nghiên cứu 52C- HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 10 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt 01- 01 thuộc chương trình tiến bộ kỹ thuật của Nhà nước về năng lượng mới được lập năm 2012, vùng Bình Thuận có cường độ bức xạ mặt trời khoảng 5,0 kWh/m2/ngày. Tổng số giờ nắng trung bình năm ở Bình Thuận dao động từ 2.000 giờ/ năm và giảm dần từ khu vực duyên hải lên khu vực đồi núi.
Các tháng 4-7 thuộc thời kỳ nắng nhất, có số giờ nắng 200 giờ/tháng ở khu vực duyên hải.Với điều kiện bức xạ và số giờ nắng trên, từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm đạt các tiêu chí về bức xạ và số giờ nắng sử dụng ĐMT cho hiệu quả tốt. Với điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi để phát triển nguồn năng lượng ĐMT, cùng với cả nước tỉnh Bình Thuận từ năm 2019 đến nay đã có nhiều dự ĐMT được xây dựng và đưa vào vận hành, góp phần cung cấp nguồn năng lượng sạch lên hệ thống lưới điện quốc gia. Tính đến hết năm 2020 tỉnh đã có 1.011,2 MWp với 23 nhà máy điện mặt trời đã được đi vào vận hành chiếm gần 12% công suất nguồn điện mặt trời tại Việt Nam [13]. Bên cạnh đó nguồn điện mặt trời áp mái cũng phát triển không kém, tính đến 26/04/2021 là 430 khách hàng với tổng công suất lắp đặt là 298,3 MWp.
Khu vực tỉnh Bình Thuận cũng có tốc độ gió cao phù hợp với phát triển điện gió, khu vực đất đai thưa dân cư, thuận lợi để xây dựng các dự án điện gió. Trước tháng 06/2021 tỉnh có 04 dự án điện gió gồm: ĐG Phú Lạc, ĐG Tuy Phong Giai đoạn 1, ĐG Hồng Phong và ĐG Điện gió Đại Phong với tổng công suất lắp đăt là 134 MW. Đến tháng 11/ 2021 có thêm năm dự án được đưa vào vận hàng thương mại với công suất là 204,2 MW, đưa tổng công suất lắp đặt điện gió của tỉnh lên 338,2 MW. Bên cạnh đó tỉnh Bình Thuận cũng có tiềm năng rất lớn để phát triển các dự án điện gió xa bờ.
Hiện nay đã có 3 dự án đang trong giai đoạn phát triển dự án, đánh giá tiềm năng triển khai gồm: Bình Thuận offshore wind (5.000 MW), La Giàn offshore wind (3.500 MW), Thăng Long offshore wind (3.400 MW) với tổng công suất 11.3 Ưu và nhược điểm của NMNLTT (ĐMT, ĐG) 2.1 Ưu điểm của NMNLTT HVTT: Nguyễn Hữu Dũng Trang 11 LVThs GVHD: TS. Huỳnh Quốc Việt NM NLTTT là nguồn năng lượng sạch, thân thiện với môi trường, ít gây ô nhiễm môi trường, nguồn năng lượng này không bị cạn kiệt theo thời gian. Hiện nay các nguồn năng lượng hóa thạch dần cạn kiệt theo thời gian, năng lượng tái tạo là một hướng phù hợp để giảm dần phụ thuộc năng lượng vào các nguồn năng lượng hóa thạch. Các NMNLTT khi vận hành gần như không tạo ra khí CO2 cũng như các khí và hóa chất ảnh hưởng đến môi trường, điều đó giúp môi trường sống của chúng ta được cải thiện hơn so với sử dụng các nguồn năng lượng truyền thống.
Khi vận hành NMNLTT không cần chi phí nhiêu liệu đầu vào, chi phí bảo trì bảo dưỡng thấp, độ bền của dự án cũng khá cao. Quá trình đầu tư xây dựng một dự án NMNLTT ngắn hơn các nguồn điện truyền thống khác, ví dụ như xây dựng một NMĐMT 50MW thời gian hoàn từ 3- 6 tháng. Giá thành đầu tư các dự án NMNLTT thấp hơn nhiều các năm trước nhờ vào sự phát triển của công nghệ phát điện, và giảm chi phí sản xuất, nên việc đầu tư một dự án NLTT sinh lời tốt cho các nhà đầu tư với mức giá mua điện theo các cơ chế giá cố định chính phủ đã ban hàng.