Chương 1 : TONG QUAN LUẬN VĂN THẠC SĨ 11 CÁC NGHIÊN CỨU VE SAN XUẤT BIOGAS TU PHAN HEO VA LỤC BÌNH 1.1 Trong nước Kha Mỹ Khanh (1990) đã trình bày các phương pháp lý học (cat nhỏ từ 2 + 3 cm), hóa học (dùng dung dịch kiềm NazCOa hoặc Ca(OH);) và sinh học (dùng nước thai ham ủ đang hoạt động) dé xử lý lục bình trong thí nghiệm nap lục bình cho ham ủ biogas. Kết quả cho thay với cùng trọng lượng nap phân heo và lục bình (ủ chua 6 ngày) thì lượng khí sinh ra ở lục bình đã ủ chua cho ra lượng khí cao hơn. Với cùng trọng lượng nạp với tỉ lệ | phân heo : 2 lục bình nhưng với 3 nghiệm thức khác nhau gồm lục bình không xử lý, có xử lý ủ chua (6 ngày) và có xử lý kiềm thì nghiệm thức xử lý kiềm cho ra lượng khí cao hơn so với 2 nghiệm thức xử lý còn lại. Nhưng về hiệu quả kinh tế thì việc xử lý lục bình băng kiềm sẽ không kinh tế so với việc lục bình chỉ xử lý ủ chua.
Và với cùng trọng lượng nạp với tỉ lệ | phân heo : 2 lục bình, lục bình sau khi ủ hiếu khí 8 ngày đem ủ chua từ 4 + 6 ngày cho lượng khí tốt nhất [15]. Theo Trương Duy Linh (1991), kết quả thí nghiệm xử lý lục bình cho thấy lục bình cắt ngăn 20 + 30 cm sau đó đem ủ chua với nước thải hầm ủ đang hoạt động với thời gian ủ chua 15 ngày sẽ cho lượng khí nhiều, rút ngăn được thời gian ủ của nguyên liệu [18]. Lê Hoàng Việt (2004) tiến hành thí nghiệm lên men yếm khí (5 lít) để xác định thé tích biogas và metan sinh ra từ nguyên liệu nước ép lục bình và phân heo. Các kết quả cho thấy lượng biogas sinh ra từ nước ép lục bình, nước ép lục bình + 5% phân heo va nước ép bục bình + 10% phân heo là 0,317 m” metan/kgCOD bị loại bỏ, 0,31 m° metan/kgCOD bị loại bỏ và 0,317 m° metan/kgCOD bị loại bỏ theo thứ tự.
Như vậy nước ép bục bình thích hợp để sản xuất biogas, tuy nhiên hàm lượng chất hữu cơ của nước ép lục bình sau quá trình lên men yếm vẫn còn khá cao, cần phải được xử lý thêm trước khi thải ra môi trường [13]. Lê Trần Thanh Liêm (2010) đã cắt nhỏ lục bình tươi từ 1 + 2 em cho vào các túi nylon, sau đó cho nước thải hầm ủ đang hoạt động vào ủ chua trong 10 ngày. LUẬN VĂN THẠC SĨ Kết quả thí nghiệm ủ yếm khí cho thấy lượng khí biogas sinh ra vượt trội hơn khi sử dụng phân heo phối trộn với lục bình sau 10 ngày ủ chua. Đồng thời hàm lượng khí metan sinh ra khi sử dụng hỗn hợp phân heo trộn lục bình sau 10 ngày ủ nhiều hơn 100% phân heo làm nguyên liệu nap [17].2 Ngoài nước Saraswat (1986) đã nghiên cứu trong phòng thí nghiệm với lục bình xay (1,25 mm) và làm thành viên.
Với hai hệ thống có xử lý kiềm (dùng 3,6% NazCQO2a — 2,5% Ca(OH);, kéo dai 24 giờ) sau đó ủ chua (2 ngày). Kết quả đạt được sau 7 ngày sinh khí ở nhiệt độ 35 + 37 °C thí nghiệm có xử lý kiềm năng suất sinh biogas là 50 L/kg lục bình khô va thí nghiệm chỉ ủ chua 2 ngày cho năng suất gas là 32,51 L/kg lục bình khô. Qua thí nghiệm trên cho thấy lục bình qua xử lý kiểm trước khi cho vào hầm ủ sẽ cho năng suất sinh biogas lớn hơn nhưng sẽ tốn kém nhiều về chất hóa học. Do dé, nó không hiệu quả về kinh tế nếu xử lý lục bình bằng kiểm trước khi đưa vào hầm ủ [50].
Madamwar (1990) đã nghiên cứu cải thiện quá trình phan hủy ky khí của phan heo và lục bình với các phế thải nông nghiệp và các phế thải khác như lá cây Polyalthia longifolia (Sonn.) , lá cây Azadirachta indica A., 14 bạch đàn, bã mia, than cay chuối, chat thải gia cầm, pho mát, bột tảo (Enteromorpha sp. Kết quả thí nghiệm cho thay bùn bã mía, thân cây chuối, chất thải gia cầm, pho mát và bột tảo làm gia tăng hơn 100% khí sản sinh với hàm lượng metan cao hơn 5-10 % [44]. Madamwar (1991), nghiên cứu ảnh hưởng của các chất hoạt động bề mặt khác nhau lên quá trình phân hủy ky khí của phân gia súc và lục bình. Các chất hoạt động bề mặt sử dụng với các liều khác nhau: Tween 20, Tween 60, Tween 80, Natri lauryl sulphate, Tegoprens 42, Tegoprens 43, Tegoprens 47, Teogprens 51, Tegoprens 52, Tegoprens 63.
Trong số các chất hoạt động bề mặt thử nghiệm, Tegoprens 43 làm gia tăng khí sinh sản sinh hon 114% với hàm lượng metan cao hơn 6,25% [46]. LUẬN VĂN THẠC SĨ Ở Indonesia, ham ủ biogas với thể tích 1 m và 0,5 m phân chứa khí phía trên ham ủ.Phân gia súc được sử dụng như chất cay vào trong quá trình khởi động. Trước khi nạp ham ủ, lục bình được rửa với nước để loại bỏ tạp chất và sau đó cắt thành từng miếng. Hàm lượng nước trong lục bình tươi là 89,5% và ty lệ C/N là 27.
Khí sinh học được sản xuất từ quá trình này là 620 L/kg lục bình khô và hàm lượng metan là 52% khi chỉ sử dung phan lá và thân cây. Nếu nạp toàn bộ lục bình (bao gồm rễ cây) vào hầm ủ. lượng khí sinh học giảm xuống còn 331,4 L/kg lục bình khô (Kozo, 1995)[43]. Mô hình sản xuất biogas từ việc phối trộn lục bình và dư lượng dạ cỏ tươi (fresh rumen residue) cung cấp năng lượng cần thiết cho một cơ sở phụ sản ở Niamey, Nigeria.
Hệ thong lên men kiểu nạp theo mẻ nap trôi nỗi gồm 6 ham ủ, mỗi hầm ủ 5 mỉ. Sản lượng biogas vào mùa nóng (30 — 40°C) và mùa mát (20 — 30°C) lần lượt là 0,52 m” va 0,29 mỉ tính trên một m” hầm ủ trong một ngày (Almoustapha) [23]. Theo Biogas Digest — Volume 2, năng suất sinh biogas của một số nguyên liệu ở cuối thời gian lưu 10-20 ngày với nhiệt độ 30°C cho thay luc bình có năng suất sinh biogas cao cao hơn các nguyên liệu thực vật khác: lục bình: 375 L/kg vật chất khô, phân heo: 340 -550 L/kg vật chất khô, phân bò: 90 — 310 L/kg vật chất khô, rơm: 170 — 280 L/kg vật chất khô [42]. Một hệ thống gồm hồ lục bình 7.9m xử lý 1250 mỶ nước thai/ngay ở An Độ.
Sinh khối lục bình được thu hoạch hàng ngày và xay nhỏ chuyển vào ham ủ biogas. Trung bình | kg sinh khối lục bình tươi thu được 32 lít CH, (Nguyễn Đức Lượng, 2003)|4]. Panning (2003) [49] đã thực nghiên cứu khả thi sử dung lục bình cho Việt Nam với sự phối hợp thực hiện của Trường Đại học Cần Thơ. Các thí nghiệm do Đại học Cần Thơ hiện cho biết nước ép từ thân lá lục bình thích hợp để sản xuất biogas.
Đề khăng định tính khả thi của việc sử dụng nước ép lục bình sản xuất biogas, hai thí nghiệm đã được thực hiện tại Luxembourg với mẫu lục bình được LUẬN VĂN THẠC SĨ thu thập tại Hậu Giang — khu vực có nhiều lục bình nhất ở đồng băng sông Cửu Long. - Phí nghiệm lên men ky khí trong phòng thí nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế chấp nhận cho việc theo dõi quá trình ky khí. Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nạp theo mẻ (hình 1. Kết quả cho biết, sau 10 ngày năng suất biogas gan dat giá trị tối ưu.
Ba lục bình có chứa nhiều lignin-cellulose và hemicellulose nên phân huỷ chậm. So với nước ép lục bình, bã lục bình có năng suất sinh biogas đạt giá trị tối ưu sau 20 ngày, thậm chí sau 30 ngày. Điều này cho thay, nếu sử dụng nước ép lục bình dé sản xuất biogas thì thé tích bể lên men metan giảm 2/3. Sau 26 ngày, nước ép lục bình có năng suất biogas trung bình 0,327 Nm”/kg ODM nguyên liệu đầu vào, tốc độ sản sinh biogas là 65 L/kgODM/ngày.
Năng suất biogas của nước ép lục bình tương đối thấp hơn so với tiềm năng sinh khí metan của các loài thực vật khác nhưng cao so với phân tươi, thấp hơn cây dau gai ủ chua va cao hơn so với bã nho. Hàm lượng metan trong biogas trong khoảng 53% - 61%. Như vậy, nước ép lục bình thích hợp cho sản xuất biogas.1: Mô hình thí nghiệm xác định tiềm năng sinh biogas từ nước ép lục bình và bã lục bình - Thí nghiệm với mồ hình bình ủ 30 lít (hình 1.2), phan chứa hỗn dich lên men là 22 lít. Bình ủ có thiết bị khuấy trộn, kiểm soát pH và nhiệt độ được giữ 6n định 8 LUẬN VĂN THẠC SĨ (33°C).
Lượng nguyên liệu nap ở mức tai trọng 2 kg ODM/m thé tích ủ. Kết quả cho biết, nước ép lục bình có năng suất biogas trung bình là 0/712 m/kg ODM, hàm lượng metan từ 60% — 62%. 12 HIỆN TRANG CHAN NUÔI HEO TẠI VIỆT NAM 1. Hiện trạng chăn nuôi heo cả nước Từ trước đến nay, chăn nuôi luôn có vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp nước ta, giá trị chăn nuôi chiếm tỷ trọng khá, trên 27% cơ cấu của toàn ngành và tăng trưởng mỗi năm (giai đoạn 2001 - 2009) đạt 7-8% (bảng 1.
Theo Tổng CỤC Thống kê, năm 2010, tong số đầu lon dat 27,3 triệu con, số lượng gia cầm hơn 300 triệu con, sản lượng thịt đạt 615 nghìn tan. Đàn bò trong cả nước đạt gân 6 triệu con, bò sữa 128 nghìn con và đàn trâu là 2,9 triệu con. Tổng sản phẩm chăn nuôi trong nước đạt 4.006 nghìn tan thịt, 306 nghìn tan sữa tươi va 5,87 ty quả trứng. LUẬN VĂN THẠC SĨ Theo quyết định số 10/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi dén năm 2020, mục tiêu phat triên: - Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phan lớn nhu cau thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu; - Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%; - Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi.
- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mồ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chat thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường.