Chương 1: Tổng quan về Hiệp định TRIPs và sự phát triển của hệ thống sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại trên thế giới. - Chương 2: Một số vấn đề kinh tế trong thực thi Hiệp định TRIPs ở Việt Nam. - Chương 3: Một số đề xuất thúc đẩy quá trình thực thi Hiệp định TRIPs ở Việt Nam. -7- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TRIPs VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN THƢƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ và Hiệp định TRIPs 1.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ (IPR - Intellectual Property Rights) 1.1 Lịch sử của sáng chế và sở hữu trí tuệ Trong vài trăm năm trở lại đây, công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định tạo ra sự thịnh vượng và là động lực cho sự phát triển của các dân tộc.
Lịch sử nhân loại là lịch sử của việc áp dụng trí tưởng tượng hoặc sự đổi mới và sáng tạo, trên một nền tảng tri thức đang hiện hữu để giải quyết các vấn đề. Từ những nghi lễ xa xưa nhất, qua buổi đầu của nghệ thật âm nhạc và múa thời tiền sử, đến những công nghệ hiện đại như các loại phần mềm và kỹ thuật số, loài người đã tự nhận biết và khẳng định bản thân thông qua hoạt động sáng tạo. Sở hữu trí tuệ là một khái niệm đã lâu đời. Luật Venice 1474 thường được nhắc đến như là sự tiếp cận có hệ thống đầu tiên đối với bảo hộ sáng chế dưới một hình thức của bằng độc quyền sáng chế, bởi vì đây là lần đầu tiên luật này quy định một loại độc quyền của một cá nhân.
Vào thế kỷ 16, dưới triều đại Tudor, nước Anh đã có một hệ thống bằng độc quyền sáng chế, đạo luật về Đặc quyền năm 1642 là luật thành văn đầu tiên quy định việc cấp một đặc quyền cho sáng chế trong một khoảng thời gian có giới hạn. Nửa sau của thế kỷ 18 là thời hoàng kim của thương mại và công nghiệp đối với nhiều nước và cũng là thời của sáng tạo nghệ thuật, đổi mới khoa học và cách mạng chính trị. Chính trong thời kỳ này, một số nước đã thiết lập hệ thống bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của họ như Pháp, Hoa Kỳ,. Sau đó, quyền tác giả với sự phát triển của máy in và nhà in cùng các quyền sở hữu trí tuệ khác như nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, mạch tích hợp, bảo hộ cạnh tranh không lành mạnh lần lượt được quan tâm và công nhận ở nhiều quốc gia.1: Những sáng chế lớn đã làm thay đổi tiến trình vận động của nhân loại Tên tác giả Quốc gia Sáng chế Mô tả Maharaja Ấn Độ Dụng cụ Năm 1728, Jai Sigh-một học giả đã Jai Sigh thiên văn xây dựng 5 đài quan sát thiên văn ở Delhi, Jaipur, Varanasi, Ujjain và Mathura.
Các dụng cụ thiên văn ở các đài quan sát vẫn còn đang hoạt động này đo đạc chính xác thời gian và vị trí của mặt trời và các vì sao. Alexander Vương Điện thoại Năm 1876, Bell nhận bằng độc quyền G.Bell quốc Anh sáng chế cho “Phương pháp và thiết bị truyền tiếng nói hoặc âm thanh khác dưới hình thức điện tín bằng cách gây sóng điện” của mình. Sáng chế của Bell giành được 18 bằng độc quyền sáng chế mang tên ông và 12 bằng độc quyền sáng chế chung tên với đồng nghiệp của ông. Orville và Hoa Kỳ Máy bay Năm 1903, anh em nhà Wright đã Wibur sáng chế ra máy bayđầu tiên của họ Wright tại Hawk, Bắc Carolina.
Vladimir Liên bang Truyền Năm 1929, Zworykin đã sáng chế ra K.Zworykin Nga hình điện điện tử ống tia ca-tốt cần thiết cho tử truyền hình. Konrad Đức Máy tính Zuse được coi là nhà sáng chế của -9- Zuse có thể lập một máy có thể lập trình tính hiện đại trình (điện cơ nhị phân) nhờ mô hình Z1 của ông hoàn thành vào năm 1941. James Hoa Kỳ Đĩa Năm 1965, Rusell đã phát triển một Russell Compact hệ thống ghi, lưu trữ và phát lại âm nhạc sử dụng ánh sáng (Và công nghệ lade) thay vì tiếp xúc. Rusell đã nhận 22 bằng độc quyền sáng chế cho hệ thống của mình.2 Quyền sở hữu trí tuệ và hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản tri thức ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan trọng của nó trong tiến trình phát triển.
Khi tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ thì người nắm giữ tài sản đó có một số quyền nhất định đối với tài sản trí tuệ của mình. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền mà nhà nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản trí tuệ sự kiểm soát độc quyền trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bất hợp pháp. Theo Luật sở hữu trí tuệ được thông qua vào tháng 11 năm 2005 của Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Tập hợp các quyền sở hữu trí tuệ và các chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tạo thành một hệ thống sở hữu trí tuệ.
Hệ thống sở hữu trí tuệ bao gồm chính sách sở hữu trí tuệ, cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực phục vụ cho việc thực thi chính sách đó. Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, mỗi quốc gia sẽ hình thành hệ thống sở hữu trí tuệ riêng. Một chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: -10- - Các tiêu chuẩn xác lập quyền của chủ sở hữu trong việc ngăn cấm người khác khai thác kinh tế đối với sáng tạo của họ; các tiêu chuẩn này sẽ xác định phạm vi được bảo hộ của các sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền và các quyền sở hữu trí tuệ khác. - Các giới hạn đối với các quyền nêu trên vì mục đích phát triển kinh tế trong nước cũng như chính sách xã hội, bao gồm việc cho phép phát triển công nghệ, sử dụng trong giáo dục đào tạo, chống độc quyền đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, thời hạn bảo hộ,.
- Các biện pháp và chế tài bảo hộ các quyền nêu trên. Xét trên phương diện vĩ mô, cùng với sự phát triển của kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống quyền sở hữu trí tuệ sẽ có những ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động thương mại, và rộng hơn là đến nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế toàn cầu. Theo quy định của WIPO, có các loại hình sở hữu trí tuệ sau: - Bằng độc quyền sáng chế: Bằng độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan có thẩm quyền cấp trên cơ sở nộp đơn yêu cầu bảo hộ, trong đó mô tả sáng chế và thiết lập điều kiện mà theo đó sáng chế đã được cấp bằng độc quyền chỉ có thể được khai thác một cách bình thường (sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu) với sự cho phép của chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế. Việc bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế bị giới hạn về mặt thời gian, thường là 20 năm tính từ ngày nộp đơn ở nước nơi sáng chế đó được cấp bằng, đổi lại tác giả phải bộc lộ công khai sáng chế đó của mình.
Chủ sở hữu của một bằng độc quyền sáng chế có quyền quyết định ai có thể sử dụng cũng như cho phép những bên khác sử dụng sáng chế theo các điều kiện đã thỏa thuận. Chủ sở hữu cũng có thể nhượng quyền sáng chế cho một người khác, người này sau đó sẽ trở thành chủ sở hữu mới của bằng độc quyền sáng chế đó. Khi một bằng độc quyền sáng chế hết hiệu lực, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế không thể tiếp tục thực hiện sự kiểm soát đối với việc khai thác sáng chế, tức là độc quyền của chủ sở hữu đối với sáng chế chấm dứt và người khác có thể sử dụng sáng chế nhằm khai thác thương mại. -11- - Quyền tác giả và các quyền liên quan: Quyền tác giả bao gồm một tập hợp quyền dành cho người sáng tạo đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ.
Các tác giả và người thừa kế của họ nắm giữ các độc quyền để sử dụng hoặc cấp li-xăng cho người khác sử dụng tác phẩm theo các điều kiện thỏa thuận. Đối tượng bảo hộ bản quyền bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học dưới bất kỳ hình thức và cách thức thể hiện nào. Ý tưởng được thể hiện trong tác phẩm không cần phải mới song hình thức thể hiện, cho dù là tác phẩm văn học hay nghệ thuật, phải là sự sáng tạo nguyên gốc của tác giả. Việc bảo hộ không phụ thuộc vào chất lượng hoặc giá trị của tác phẩm và cả mục đích mà tác phẩm hướng tới.
Trên thực tế, tất cả các quốc gia quy định bảo hộ đối với các loại tác phẩm: Tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật tạo hình, bản đồ và các hình vẽ kỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm điện ảnh và chương trình máy tính. Quyền liên quan là những quyền đã phát triển trong khoảng chừng vài chục năm gần đây, xung quanh quyền tác giả và bao gồm quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của người đó, quyền của người chế tạo bản ghi âm đối với bản ghi âm đó và quyền của tổ chức phát sóng đối với cuộc phát sóng. Việc bảo hộ này giúp cho sản phẩm trí tuệ của các tác giả được truyền bá và phổ biến tới đông đảo công chúng được thực hiện thông qua các quyền liên quan. - Nhãn hiệu hàng hóa: Một nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa của một doanh nghiệp với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh.
Như vậy, nhãn hiệu hàng hóa có tính phân biệt, là một biểu tượng hoặc dấu hiệu nhận dạng được nguồn gốc của sản phẩm hoặc dịch vụ. Nhãn hiệu hàng hóa giúp người tiêu dùng phân biệt một sản phẩm hoặc dịch vụ từ một nguồn với các sản phẩm hoặc dịch vụ do một nguồn khác tạo ra.