CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa và phân loại thừa cân, béo phì 1. Định nghĩa thừa cân, béo phì Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ13,14.
Phân loại thừa cân, béo phì 1. Phân loại béo phì theo sinh bệnh học Béo phì đơn thuần (béo phì ngoại sinh): Là béo phì không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. Béo phì bệnh lý (béo phì nội sinh): Là béo phì do các vấn đề bệnh lý gây nên: - Béo phì do nguyên nhân nội tiết. - Béo phì do suy giáp trạng.
- Béo phì do cường vỏ thượng thận. - Béo phì do thiếu hormon tăng trưởng. - Béo phì trong hội chứng tăng hormon nang buồng trứng. - Béo phì trong thiểu năng sinh dục.
- Béo phì do các bệnh về não: Do tổn thương vùng dưới đồi, u não, chấn thương sọ não, phẫu thuật thần kinh. Các nguyên nhân này gây hủy hoại vùng trung tâm não trung gian, ảnh hưởng đến sức thèm ăn, tăng insulin thứ phát nên thường kèm theo béo phì9,15. Phân loại béo phì theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu béo phì - Béo phì bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên): là loại béo phì có tăng số lượng và kích thước tế bào mỡ. 4 - Béo phì bắt đầu ở người lớn: là loại béo phì có tăng kích thước tế bào mỡ còn số lượng tế bào mỡ thì bình thường.
- Béo phì xuất hiện sớm: là loại béo phì xuất hiện trước 5 tuổi. - Béo phì xuất hiện muộn: là loại béo phì xuất hiện sau 5 tuổi. - Các giai đoạn thường xuất hiện béo phì là thời kỳ nhũ nhi, 5 tuổi, 7 tuổi và vị thành niên (tuổi tiền dậy thì và dậy thì). Béo phì ở các thời kỳ này làm tăng nguy cơ của béo phì trường diễn và các biến chứng khác16.
Phân loại béo phì theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu - Béo bụng: Là dạng béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng. - Béo đùi: Là loại béo phì có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của béo phì. Béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng insulin máu, và rối loạn lipid máu hơn so với béo đùi16,17.
Một số cách phân loại khác - Béo phì do sử dụng thuốc: Sử dụng corticoid liều cao và kéo dài, dùng estrogen, deparkin có thể gây béo phì. - Béo có khối nạc tăng so với chiều cao và tuổi: Trẻ béo phì có khối nạc tăng so với tuổi thường có chiều cao cao hơn chiều cao trung bình, thường là trẻ béo phì từ nhỏ, dạng này đặc trưng cho đa số béo phì ở trẻ em. - Trẻ thừa cân và thừa mỡ, thừa mỡ nhưng không thừa cân (rất ít trẻ thuộc nhóm này) và thừa cân nhưng không thừa mỡ18,19. Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em thế giới và tại Việt Nam 1.
Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em trên thế giới Béo phì được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với y tế công cộng trong thế kỉ XXI với số lượng người béo phì năm 2014 đã cao hơn gấp đôi so với năm 198013. TC, BP là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm2. TC, BP không chỉ là vấn 5 đề sức khỏe cộng đồng ở các quốc gia phát triển mà ngay cả các quốc gia đang phát triển số lượng người béo phì cũng đang tăng nhanh, đặc biệt là ở khu vực thành thị13,. Điều đáng lo ngại là sự gia tăng tỷ lệ béo phì ở trẻ em toàn cầu đang ở mức báo động (Hình 1.
Ước tính đến năm 2030, gần một phần ba dân số thế giới có thể bị TC, BP20. Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ béo phì trên toàn thế giới đã tăng gần gấp ba lần từ năm 1975 đến năm 2016. Năm 2016, ước tính có 41 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì13. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi đã tăng đáng kể từ chỉ 4% năm 1975 lên hơn 18% vào năm 2016.
Sự gia tăng tỉ lệ này đã xảy ra ở cả nam và nữ: năm 2016 18% trẻ em gái và 19 % con trai bị thừa cân. Trong khi chỉ có dưới 1% trẻ em và thanh thiếu niên từ 5-19 tuổi bị béo phì vào năm 1975, thì có hơn 124 triệu trẻ em và thanh thiếu niên (6% trẻ em gái và 8% trẻ em trai) bị béo phì vào năm 201613. Tính đến năm 2019 có khoảng 38,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TC, BP, trong số đó có hơn 1 nửa trẻ đang sinh sống ở Châu Á21. Bản đồ tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì của các nước trên thế giới từ năm 2000 đến 2014 (Nguồn: http://www.org/Obesity Sedentary Crisis/Global_Obesity_Charts.htm) 6 TC, BP từng được coi là một vấn đề của quốc gia có thu nhập cao, nhưng tình trạng này đang gia tăng ở cả các nước thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu vực thành thị.
Ở Châu Phi, số trẻ em dưới 5 tuổi thừa cân đã tăng gần 50% kể từ năm 2000. Hơn 340 triệu trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi 5 đến 19 bị thừa cân hoặc béo phì trong năm 20162,13. Theo kết quả nghiên cứu được công bố năm 2014, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em và trẻ vị thành niên ở các nước phát triển năm 2013 ở nam là 23,8% (22,9-24,7) và ở nữ 22,6% (21,7- 23,6). Tỷ lệ trẻ em và trẻ vị thành niên TC, BP cũng tăng nhanh ở các nước đang phát triển, năm 2013 tỷ lệ ở nam là 12,9% (12,3-13,5) và nữ là 13,4% (13,0-13,9)22.
Theo thống kê tại Mỹ, TC, BP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và toàn xã hội23. Trong số những trẻ có độ tuổi từ 2 đến 19 tuổi, tỷ lệ TC, BP trong giai đoạn 2011-2014 vào khoảng 17,0% và béo phì mức độ nặng vào khoảng 5,8%. Với đối tượng trẻ từ 2 đến 5 tuổi, tỷ lệ mắc TC, BP tăng từ 7,2% (giai đoạn 1988-1994) lên 13,9% (giai đoạn 2003-2004), sau đó giảm còn 9,4% (giai đoạn 2013-2014). Riêng với đối tượng trẻ từ 6 đến 11 tuổi, tỷ lệ mắc béo phì tăng từ 11,3% (giai đoạn 1988-1994) lên đến 19,6% (giai đoạn 2007-2008) và tỷ lệ này hầu như không thay đổi vào năm 2013-201424.
Tại châu Âu, trong những năm gần đây, tỷ lệ béo phì trẻ em tăng nhanh đáng báo động ở các quốc gia. Năm 2005, theo báo cáo của Tổ chức chuyên trách béo phì quốc tế (IOTF) thì cứ 5 trẻ em thì có 1 trẻ bị thừa cân hay béo phì. Các quốc gia ở vùng Địa Trung hải có tỷ lệ tăng cao nhất: thậm chí có nơi tỷ lệ thừa cân ở trẻ em ngang với ở Mỹ, tới 30%. Các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của TC, BP: những năm 70, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 0,2% thì đến nay là 2% (tương đương với khoảng 400.
Tại Châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng. Tại Trung Quốc, năm 2018, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em tiểu học và trung học của Trung Quốc là 14, 0% và tỷ lệ béo phì là 10,5%27. Theo nghiên cứu của Yu và cs 7 ở 32862 trẻ em Trung Quốc dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em dưới 5 tuổi ở cả vùng thành thị và nông thôn đều là 8,4%, trong đó tỷ lệ béo phì trẻ nam là 9,4%, béo phì trẻ nữ là 7,2%. Tỷ lệ béo phì theo mức thu nhập gia đình thấp, trung bình, cao lần lượt là 2,8%, 3,3% và 3,5%28.
Ở khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ béo phì ở trẻ em khác nhau rõ rệt giữa các nước. Tại Campuchia, do đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, tốc độ đô thị hóa chưa mạnh nên tỷ lệ béo phì tương đối thấp, Campuchia chưa phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của Horiuchi và cs trên hơn 2000 học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy, tỷ lệ TC, BP chỉ 3,1%, trong đó tỷ lệ ở thành thị là 6,4% và nông thôn là 2,3%29. Tại Indonesia, theo nghiên cứu của Rachmi và cs công bố năm 2016 qua các năm 1993, 1997, 2000, 2007, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ TC, BP tăng từ 10,3% lên 16,5%, các yếu tố của nguy cơ béo phì như trẻ ở độ tuổi 2 đến 2,9, trẻ nam và trẻ có cha mẹ TC, BP.
Bên cạnh đó Indonesia vẫn phải đối mặt với gánh nặng kép dinh dưỡng tương tự như Việt Nam khi tỷ lệ suy dinh dưỡng ở Indonesia năm 1993 là 34,5% và đến năm 2007 giảm còn 21,4%30. Nghiên cứu của Naidu trên 7749 trẻ em từ 7 đến 12 tuổi ở Malaysia cho thấy tỷ lệ béo phì chung là 19,9%, những trẻ nam, những trẻ Malaysia gốc Hoa, những trẻ thành phố có nguy cơ béo phì cao hơn rõ rệt so với các trẻ khác31. Trong 1 nghiên cứu khác ở trẻ béo phì từ 5 đến 9 tuổi ở Malaysia 32 cho thấy 25% trẻ em tiêu thụ thức ăn quá nhu cầu khuyến nghị, trẻ nam tiêu thụ thực phẩm nhiều hơn rõ rệt so với nữ. Trẻ nam cũng tiêu thụ calcium, thiamine, riboflavin, và niacin cao hơn rõ rệt so với trẻ nữ.
Dịch tễ học thừa cân, béo phì trẻ em tại Việt Nam Tại Việt Nam, tỷ lệ TC, BP ở trẻ em tăng gấp đôi từ 3,3% lên 6,6% trong giai đoạn 2000-2005 và 6,6% lên 12% trong giữa 2005 -2010 và tăng gần gấp rưỡi từ 12% lên 17,5% trong giai đoạn 2010 -2015. Trong vòng 15 năm, tỷ lệ thừa cân trẻ em tăng hơn 4 lần từ 3,3% (2000) lên 17,5% (2015)33. Ở nước ta tỷ lệ trẻ TC, BP ở học sinh tiểu học có xu hướng tăng cao đặc biệt tại các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. 8 Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ TC, BP ở học sinh có sự gia tăng rất nhanh.
Nghiên cứu năm 2007 ở trường học ở quận 1 có tỷ lệ béo phì là 41,1% và trường ở quận 7 có tỷ lệ béo phì là 10,8%34. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thu Diệu năm 2007 trên 670 trẻ em mầm non Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 20,5% (95% CI: 17,5-24,3) và 16,3% (95% CI: 13,2-20,4).