Lời mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và các Mục tiêu đƣợc cụ thể hoá ở Việt Nam Chƣơng II: Hoàn thiện hệ thống chỉ số và phƣơng pháp đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ở Việt Nam Chƣơng III: Vận dụng hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ ở Việt Nam trong những năm qua iii Chƣơng 1 TUYÊN BỐ THIÊN NIÊN KỶ CỦA LIÊN HỢP QUỐC VÀ CÁC MỤC TIÊU ĐƢỢC CỤ THỂ HOÁ Ở VIỆT NAM 1. TUYÊN BỐ THIÊN NIÊN KỶ CỦA LIÊN HỢP QUỐC Bƣớc vào thế kỷ 21 và Thiên niên kỷ thứ ba, tất cả các nƣớc trên thế giới đều phát triển nền kinh tế của mình theo xu hƣớng phát triển mạnh nền kinh tế thị trƣờng; mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế theo hƣớng toàn cầu hoá; phát huy lợi thế so sánh, tranh thủ sử dụng tối đa kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất; phát huy tính truyền thống, bản sắc văn hoá của từng dân tộc; và đặc biệt, nhân tố con ngƣời ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nhƣng trong xu thế phát triển tất yếu đó, loài ngƣời phải đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức nhƣ phân hoá mức sống, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng; tình trạng trẻ em thất học; tình trạng suy dinh dƣỡng ở trẻ em, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tình trạng chết mẹ lớn; bất bình đẳng giới; HIV/AIDS ngày càng lan rộng; môi trƣờng bị phá huỷ và ô nhiễm. Đứng trƣớc những tồn tại và thách thức trên, tháng 9 năm 2000, hội nghị thƣợng đỉnh do Liên hợp quốc (LHQ) tổ chức tại New York đã đƣa ra bản Tuyên bố Thiên niên kỷ.
Bản tuyên bố này hợp nhất các mục tiêu phát triển có liên quan đến nhau trong một chƣơng trình nghị sự mang tính toàn cầu bao gồm các vấn đề về hoà bình, an ninh và phát triển, nhƣ các vấn đề về tính bền vững của môi trƣờng, việc bảo vệ các nhóm bị tổn thƣơng, quyền con ngƣời và sự quản lý của Nhà nƣớc. Trên cơ sở đó, các MDG đƣợc soạn thảo để cụ thể hoá bản Tuyên bố Thiên niên kỷ bằng các đích ngắm có thể đo lƣờng đƣợc. Đại Hội đồng đã ghi nhận MDG là một phần lộ trình thực hiện bản Tuyên bố Thiên niên kỷ. Thay mặt Chính phủ Việt Nam, Chủ tịch nƣớc Trần Đức Lƣơng cùng với 189 nguyên thủ quốc gia đã thống nhất ký vào bản tuyên bố chung, cam kết Việt Nam sẽ nỗ lực phấn đấu đạt đƣợc các MDG vào năm 2015.
CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ MDG là các đo lƣờng cụ thể để đánh giá sự thực hiện xuyên suốt một tập hợp các mục tiêu và đích ngắm có quan hệ với nhau về phát triển, quản lý hiệu quả, hoà bình, an ninh và quyền con ngƣời. Các MDG phản ánh các mục tiêu của Tuyên bố Thiên niên kỷ bằng cách xác định những mục tiêu và đích ngắm rõ ràng và cụ thể. Vai trò của MDG đƣợc thể hiện rõ nét ở bốn điểm sau: Thứ nhất, đƣa ra một khung nền tích hợp và hƣớng mục tiêu cho giảm nghèo đói. Thứ hai, cho phép chúng ta quan sát các điều kiện và quá trình, cũng nhƣ quyết định các hành động cần thiết.
Thứ ba, là công cụ xây dựng chính sách, đánh giá tiến độ phát triển kinh tế - xã hội. Cuối cùng, tạo nền tảng cho việc huy động các nguồn lực đầu tƣ cho phát triển con ngƣời. Để đánh giá tiến độ thực hiện các MDG, các chuyên gia Ban thƣ ký LHQ đã tham khảo ý kiến cùng các tổ chức IMF, OECD, WB và các cơ quan chuyên môn khác của LHQ xây dựng một khung “8 mục tiêu, 18 đích cụ thể và 48 chỉ tiêu” đánh giá. VIỆT NAM VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đƣợc thể hiện rất rõ ràng.
Chính sách xoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của nƣớc ta. Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của quốc tế rất phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt Nam, do vậy việc cam kết thực hiện mục tiêu trên trở thành rất có ý nghĩa. Điều đó đã chứng tỏ đƣờng lối phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo là đúng với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng của toàn nhân loại trên thế giới. Với việc ký Tuyên bố Thiên niên kỷ, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ của v Chính phủ trong việc cải thiện hơn nữa phúc lợi của ngƣời dân, trong đó đặc biệt chú ý đến ngƣời nghèo đồng thời chứng tỏ Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình hội nhập.
Do đó, ngay khi Tuyên bố Thiên niên kỷ có hiệu lực, Việt Nam đã không ngừng triển khai thực hiện các nội dung cam kết. Bên cạnh đó, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ còn đƣợc thể hiện rõ nét trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 của Việt Nam. Hƣớng theo những mục tiêu MDG toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã cụ thể hoá cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Các Mục tiêu Phát triển của Việt Nam (VDG) bao gồm các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đƣợc quốc gia hoá, song đã đƣợc mở rộng và điều chỉnh cho phù hợp nhằm đề ra một nhóm toàn diện hơn các mục tiêu và chỉ tiêu tƣơng ứng.
VDG là một hệ thống các nhóm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội gồm 3 mục tiêu về kinh tế và 12 mục tiêu xã hội và xoá đói giảm nghèo, trong đó có những mục tiêu trực tiếp dựa trên các MDG và những mục tiêu không trực tiếp dựa trên các MDG. Chƣơng 2 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ SỐ VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ Ở VIỆT NAM 2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ Ở VIỆT NAM MDG là tổ hợp những mục tiêu phát triển con ngƣời toàn diện nhất và chi tiết nhất từng đƣợc thông qua. Chúng chứa đựng những chỉ báo cơ bản về phát triển con ngƣời trong nhiều khía cạnh, bao gồm đói nghèo thu nhập, giáo dục, bình đẳng giới, tiến bộ trong việc đẩy lùi các bệnh truyền nhiễm và tiếp cận tới nƣớc sạch và vệ sinh.
vi Việc thực hiện các MDG tại các tỉnh, thành phố có tầm quan trọng đặc biệt. Mục tiêu này bề ngoài mang tính toàn cầu, nhƣng trên thực tế, nó đƣợc thực hiện tại địa phƣơng, ở cấp độ tỉnh, thành phố và cộng đồng, nơi ngƣời dân sinh sống và có các yêu cầu về dịch vụ. Giám sát và xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các MDG, do đó, cần đƣợc quan tâm đặc biệt, vì đây là công cụ thiết yếu để quản lý sự phát triển, điều chỉnh chính sách. Trên cơ sở hệ thống chỉ số này, ta có thể so sánh, đánh giá việc thực hiện các MDG ở địa phƣơng.
Từ đó, các tỉnh, thành phố sẽ tìm ra nguyên nhân và có biện pháp nhằm cải thiện những mục tiêu chƣa đạt và phát huy những mục tiêu đã đạt. Đây chính là nền tảng sự thành công của MDG tại Việt Nam. NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ Ở VIỆT NAM Hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các MDG ở Việt Nam đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết thống kê và tuân thủ theo các nguyên tắc sau: - Đảm bảo tính hƣớng đích - Đảm bảo tính hệ thống - Đảm bảo tính khả thi - Đảm bảo tính so sánh đƣợc 2. HỆ THỐNG CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ Ở VIỆT NAM Dựa trên nền tảng 8 mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ mà LHQ đƣa ra, UNDP Việt Nam đã xây dựng một hệ thống chỉ số đánh giá kết quả thực hiện các MDG ở Việt Nam bao gồm 8 chỉ số mục tiêu và chỉ số MDG tổng hợp.
Các chỉ số này đƣợc tính toán trên cơ sở 23 chỉ tiêu đánh giá quá trình thực hiện MDG ở Việt Nam, bao gồm: (1) Tỷ lệ nghèo chung (2) Tỷ lệ nghèo về lƣơng thực, thực phẩm (3) Chỉ số khoảng cách nghèo đói vii (4) Tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở trẻ em dƣới 5 tuổi tính theo cân nặng/tuổi (5) Tỷ lệ nhập học đúng tuổi ở bậc tiểu học (6) Tỷ lệ biết chữ với những ngƣời trong độ tuổi 15-24 (7) Tỷ lệ học sinh nữ/nam ở cấp tiểu học so với tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học cấp tiểu học nữ/nam (8) Tỷ lệ học sinh nữ/nam ở cấp trung học cơ sở so với tỷ lệ dân số trong độ tuổi đi học cấp trung học cơ sở nữ/nam (9) Tỷ lệ biết chữ ở phụ nữ trên 15 tuổi (10) Tỷ lệ đại biểu nữ trong Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh (11) Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh (12) Tỷ lệ trẻ em dƣới 1 tuổi đƣợc tiêm phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván (13) Tỷ lệ trẻ em dƣới 1 tuổi đƣợc tiêm phòng đầy đủ (14) Tỷ lệ phụ nữ sinh đẻ không có sự trợ giúp của cán bộ y tế có trình độ (15) Số trƣờng hợp HIV trên 100.000 dân (16) Tỷ lệ bị bệnh sốt rét trên 100.000 dân (17) Số trƣờng hợp mắc lao trên 100.000 dân (18) Tỷ lệ hộ gia đình đƣợc tiếp cận với nƣớc sạch (19) Tỷ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh phù hợp (20) Tỷ lệ hộ gia đình đƣợc tiếp cận với các dịch vụ thu gom rác thải (21) Tỷ lệ đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh có trình độ học vấn ít nhất là tốt nghiệp đại học (22) Số doanh nghiệp mới đăng ký trung bình trên 1000 dân (23) Tỷ lệ đại biểu ngƣời dân tộc thiểu số trong Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh so với tỷ lệ dân tộc thiểu số trong dân số. Với hệ thống gồm 23 chỉ tiêu trên, UNDP Việt Nam đã phân tổ chúng theo 8 mục tiêu của MDG.