CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Ở châu Âu, khi nói đến phá sản doanh nghiệp, người ta thường dùng từ "Bankrupcy" hoặc "Banqueroute". Hai danh từ này bắt nguồn từ chữ "Banca Rotta" của La Mã - có nghĩa là "chiếc ghế bị gãy".
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chế định này được hoàn chỉnh và đã được nâng lên thành LPS của Nhà nước La Mã cổ đại. ở thời kỳ này, thuật ngữ phá sản đã được hình thành, bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng Latinh - có nghĩa là sự khánh tận - tức là mất khả năng thanh toán. Ở Việt Nam, thuật ngữ “phá sản” được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc do người Pháp mang sang Việt Nam cùng với quá trình thực dân hóa. Theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn.
Theo Từ điển tiếng Việt, “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ. Dưới góc độ pháp lý, phá sản là hiện tượng người mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của người mắc nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thuật ngữ này dường như không được biết đến. Pháp luật phá sản và thuật ngữ phá sản chỉ thực sự được sử dụng trở lại kể từ khi có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường.
Theo đó, hiện tượng phá sản dưới tác động của cạnh tranh đã trở thành hiện tượng bình thường và tất yếu. [2] 7 Theo quy định tại LPS doanh nghiệp năm 1993 thì doanh nghiệp đang lâm vào “tình trạng phá sản” là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng thì khái niệm nêu trên chưa sát với bản chất của hiện tượng phá sản. Cho đến LPS năm 2004, khái niệm phá sản đã được sửa đổi.
Theo đó, doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu (Điều 3). Theo hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản, thì doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: - Có các khoản nợ đến hạn: Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm); đã rõ ràng; được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp; - Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn, nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán. Chủ nợ yêu cầu phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã…). Do vậy, đối với chủ nợ, doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi: (i) Có khoản nợ đến hạn; (ii) Chủ nợ đã yêu cầu; (iii) Doanh nghiệp mắc nợ không có khả năng thanh toán.
LPS năm 2004 quy định riêng đối với các doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công thiết yếu, việc áp dụng LPS sẽ do Chính phủ quy định cụ thể. Quy định này hàm ý rằng do vai trò và tầm quan trọng đặc 8 biệt của các doanh nghiệp này, việc áp dụng LPS cần được điều chỉnh bằng những quy tắc có tính ngoại lệ, phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp ấy. Phá sản – Thủ tục tố tụng đặc biệt Xét về mặt thuật ngữ, TTPS được hiểu là thứ tự, cách thức giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản. Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp, vì nó do Toà án là cơ quan tư pháp tiến hành; đối tuợng của hoạt động tố tụng phá sản là quan hệ pháp lý phát sinh giữa chủ nợ (bên có quyền đuợc thanh toán) và con nợ (bên có nghĩa vụ thanh toán) thông qua cơ chế đặc biệt.
Khi con nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình bằng nỗ lực của riêng mình thì chủ nợ sẽ sử dụng biện pháp thông qua cơ chế đặc biệt chính là TTPS, đây duờng như là giải pháp cuối cùng mà chủ nợ phải sử dụng để đòi nợ. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình chủ nợ gửi đơn yêu cầu Toà án mở TTPS đối với con nợ. Sau khi nhận đuợc đơn yêu cầu mở TTPS thì Toà án xem xét, kiểm tra lại các căn cứ chứng minh Doanh nghiệp có thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay không? Khi có đủ cơ sở xác định doanh nghiệp (con nợ) đã mất khả năng thanh toán thì căn cứ tình hình kinh doanh, khả năng tài chính của con nợ cũng như nguyện vọng của con nợ, Toà án lựa chọn TTPH Doanh nghiệp sang hay thủ tục thanh lý doanh nghiệp cho phù hợp hoặc chuyển từ áp dụng TTPH doanh nghiệp sang thủ tục thanh lý. Việc Toà án áp dụng TTPH hay thủ tục thanh lý thực chất là giải quyết tranh chấp về lợi ích tài sản giữa chủ nợ và con nợ.
áp dụng TTPH giúp Doanh nghiệp con nợ thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán mà qua đó bảo vệ quyền lợi cho chính chủ nợ, đảm bảo quyền thu hồi nợ cho các chủ nợ. Giai đoạn phục hồi là buớc hoà giải giữa chủ nợ và con nợ, tạm thời gác lại chuyện đòi nợ mà bắt tay cùng xây dựng phuơng án giúp con nợ thoát khỏi nợ nần, nó không những giải quyết đuợc triệt để tranh chấp lợi ích về tài sản giữa chủ nợ và con nợ mà nó còn bảo đảm quyền lợi cho người lao động tại Doanh nghiệp con nợ, giúp họ tránh khỏi nguy cơ mất việc làm. 9 Như vậy, khái niệm TTPS có thể hiểu là thủ tục tư pháp đặc biệt do Toà án tiến hành khi có yêu cầu của người có quyền nộp đơn, nhằm giải quyết tranh chấp lợi ích về tài sản phát sinh giữa chủ nợ và con nợ do con nợ không có khả năng thanh toán đuợc khoản nợ đến hạn. Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt, đuợc thể hiện ở hai tính chất sau: Thứ nhất, Phá sản – Thủ tục phục hồi doanh nghiệp đặc biệt Thủ tục phá sản tạo ra cơ chế để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có cơ hội phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Do sự biến động khó lường của thị trường và các yếu tố khách quan khác nên tình trạng kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ đến hạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào. Mặt khác, một doanh nghiệp bị phá sản thì có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu đối với xã hội, mà trước hết là đối với người lao động và các chủ nợ. Chính vì vậy khi các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản thì vấn đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của doanh nghiệp cho các chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn này.
Phá sản là một vấn đề phức tạp liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thế, hiện nay với xu thế hội nhập và phát triển thì sự hình thành các tập đoàn kinh tế có vai trò quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp hay mối liên kết ngày càng gắn bó mật thiết giữa các doanh nghiệp dẫn đến sự phá sản đồng loạt hay còn gọi là phá sản dây chuyền. Như vậy sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả nuớc đồng thời là tình trạng thất nghiệp rồi nảy sinh nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Nên hạn chế tối đa tổn thất do phá sản gây ra là điều mà Nhà nuớc nào cũng huớng tới. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì doanh nghiệp đó được Toà án dành cho một khoảng thời gian nhất định nhằm tạo cơ hội cho doanh nghiệp tự mình hoặc với sự giúp đỡ của các chủ nợ áp dụng các biện pháp cần thiết để khôi phục lại hoạt động kinh doanh.
Việc quy định TTPH hoạt động 10 kinh doanh. Việc quy định TTPH hoạt động kinh doanh là cần thiết và là mục tiêu huớng tới của luật phá sản hiện đại. Trong bối cảnh hiện nay khi tình trạng thất nghiệp cao, việc duy trì sản xuất kinh doanh cần phải đuợc duy trì bằng mọi biện pháp thì pháp luật phá sản trên thế giới đều có xu hướng khuyến khích áp dụng TTPH hoạt động kinh doanh để cứu các công ty thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính. Thứ hai, Phá sản – Thủ tục xử lý nợ đặc biệt Tính đặc biệt của thủ tục xử lý nợ trong phá sản được nhìn nhận trong mối quan hệ với thủ tục đòi nợ thông thương theo thủ tục tố tụng dân sự.