CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về tín dụng Tín dụng là thuật ngữ Hán Việt, có nguồn gốc từ chữ Latin là credo, gần như được quốc tế hóa thành Credit, có nghĩa gốc là tin tưởng. Thuật ngữ Credit trên đây khi được dịch sang từ Hán Việt gồm hai từ là Tín và Dụng, đã thể hiện sát nghĩa hơn của nó với hai yếu tố được gợi lên là Tin cậy nhau(Tín) khi Sử dụng một cái gì đó(Dụng). Tuy vậy, mọi thuật ngữ đều không thể bằng hình thức của từ mà chứa nổi hết nội hàm của nó. Vì thế, từ khi ra đời cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn phát triển về kinh tế xã hội nói chung, về chính lĩnh vực lưu thông tiền tệ nói riêng, thuật ngữ Credit hay Tín dụng đã được hiểu theo nhiều sắc thái khác nhau, trong đó, điển hình là: - Theo K.
Mác thì “Tín dụng là một quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. Samuelson thì: “Tín dụng biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả. Cơ sở vật chất của tín dụng là tiền tệ và hàng hóa”. - Theo nhà kinh tế Pháp Luis Baudin thì: “Tín dụng là một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”.
“Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng, các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”. 9 “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị (dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ) từ người sở hữu sang người sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn”. Đối với các quan niệm hay sự giải thích của nhiều học giả trên đây về thuật ngữ tín dụng(TD), ý kiến của chúng tôi là: - Tất cả các định nghĩa trên về căn bản là thống nhất và đúng với bản chất của hành vi được gọi chung là TD, chỉ khác nhau về khía cạnh được người nói, người viết nhấn mạnh mà thôi. - Tuy nhiên, tính tới sự phổ dụng đương thời của nội dung hành vi được gọi là TD và để nhìn hành vi này một cách tập trung hơn vào thực chất của hành vi, dễ hiểu và toàn diện, không rườm rà hay quá nhấn mạnh mặt nào, cần phải hiểu về TD như sau: Tín dụng là mối quan hệ được cam kết về sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tài sản cho bên kia sử dụng và được nhận lại tài sản đó sau thời hạn cam kết cùng với một khoản lợi ích nhất định, đồng thời bên nhận có quyền sử dụng tài sản đó và phải hoàn trả tài sản đó đúng thời hạn cùng với khoản lợi ích đúng mức độ như đã cam kết ban đầu.
Chúng tôi xin nhấn mạnh mấy ý như sau, có ẩn chứa trong khái niệm trên về tín dung: - Đây là một quan hệ giữa người và người được cam kết. Có nghĩa là, quan hệ này không được tùy tiện phá vỡ đối với các chủ thể quan hệ. - Đây là quan hệ chuyển quyền sử dụng có thời hạn. Có nghĩa là, nó khác về bản chất với việc chuyển quyền sở hữu, được thực hiện bằng Mua- Bán hay Ban tặng(Cho).
- Người được chuyển quyền sử dụng phải trả một phần giá trị tạm gọi chung là lãi, khác về bản chất với hành vi cho mượn. Khái quát về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Có nhiều quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại, theo đó ngân hàng thương mại là tổ chức nhận tiền gửi để cho vay, ngân hàng thương mại là trung gian tài chính có giấy phép của chính phủ để vay tiền và mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc. Sở dĩ có nhiều quan điểm trên là do hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, nghiệp vụ lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng,tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất trong nền kinh tế.Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hành thương mại chẳng hạn: Tại Mỹ: ngân hành thương mại được coi là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Tại Pháp: ngân hàng thương mại là những tổ chức, xí nghiệp nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các dịch vụ tài chính Tại Việt Nam: Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Trong đó, cũng theo luật này “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” Về hình thức tổ chức thì Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trừ trường hợp ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành 11 viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; tổ chức tín dụng liên doanh và tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có độ rủi ro cao.
Có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng bậc nhất của nền kinh tế thị trường, với nhiệm vụ nhận tiền gửi của công chúng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và sử dụng nguồn lực đó cho các nghiệp vụ cấp tín dụng như: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại Từ hành vi tín dụng, được hiểu với nghĩa như vừa nêu, đến hành vi tín dụng, được gọi là tín dụng ngân hàng thương mại, đang được bàn ở đây, là cả một quá trình dài của sự phát triển kinh tế, xã hội, trong đó, điển hình là sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, theo đó là sự ra đời của tiền tệ. Từ đó có thể rút ra khái niệm hay quan niệm như sau về tín dụng ngân hàng thương mại: Tín dụng ngân hàng thương mại là một dạng của tín dụng nói chung, có đặc điểm là, có một bên chủ thể quan hệ là ngân hàng thương mại, bên còn lại là tất cả những ai có nhu cầu và khả năng quan hệ chuyển quyền sử dụng tiền tệ hoặc coi như tiền tệ với cam kết lợi ích tín dụng nhất định. Chúng tôi xin nhấn mạnh một vài ý có ẩn chứa trong khái niệm trên về tín dụng ngân hàng thương mại: - Trước hết, đó là những điều chung nhất như đã nói về tín dụng, vì tín dụng ngân hàng thương mại là một dạng của tín dụng nói chung.
- Điều riêng có, cần nói về tín dụng ngân hàng thương mại là: Trong tín dụng ngân hàng thương mại vật được chuyển quyền sử dụng là tiền hoặc vật được coi như tiền. 12 Chúng tôi xin nhấn mạnh ý này, vì trong thời đại ngày nay, khi vật đem cho vay lấy lãi không phải là tiền mà là tài sản có tính vật dụng, như nhà, đất, máy móc-thiết bị,.thì hành vi đó đã được gọi bằng tên khác, phổ thông là “Cho thuê” khi nói về hành vi này của các người chủ giản đơn là chủ nhà, chủ đất, kể cả các chủ chuyên doanh hơn là các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản. Hành vi cho thuê trên còn được thực hiện dưới dạng đặc chủng là “Cho thuê tài chính” với các chủ nhân là các Công ty cho thuê tài chính, có cơ chế thành lập, vận hành kinh doanh của nó, do Nhà nước của mỗi nước định ra để quản lý nhà nước đối với loại đơn vị kinh doanh này. Vì thế đã là hành vi tín dụng ngân hàng thì vật được “Dụng” ở đây không thể là Tài sản nói chung được mà phải là Tiền hoặc tài sản được quy thành Tiền.
Tuy nhiên, trong điều kiện mà ngoài Tiền ra, vật ngang giá còn được dùng là Vàng-Bạc- Đá quý- Cổ vật,. thì cái được “Tín dụng” không nhất định phải là Tiền, mà còn có thể là những quý vật trên và chúng tôi cũng như nhân loại vẫn coi chúng như tiền, cả trên ngôn ngữ lẫn trong giao dịch. Đó là việc mua các tài sản có giá trị lớn những không trả bằng bằng Tiền mà trả bằng Vàng- Bạc- Kim cương,.Các ngân hàng thương mại cũng vậy, họ không chỉ cho vay và nhận gửi Tiền mà còn cho vay và nhận gửi các Kim loại quý, Đá quý, các Cổ vật đặc chủng,. Ngoài ra, tùy điều kiện kinh tế xã hội từng nước, tùy trình độ phát triển của tổ chức kinh tế thị trường, nội dung của tín dụng ngân hàng thương mại còn có thể có nhiều dạng khác nhau.