CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG LẠNH Kỹ thuật lạnh là kỹ thuật tạo ra môi trường có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ bình thường của môi trường. Giới hạn giữa nhiệt độ lạnh và nhiệt độ bình thường còn có nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng nhìn chung thì giới hạn môi trường lạnh là môi trường có nhiệt độ nhỏ hơn 20oC. Trong môi trường lạnh được chia làm 2 vùng nhiệt độ.
Đó là khoảng nhiệt độ dương thấp, khoảng này từ 0oC đến 20oC, khoảng nhiệt độ còn lại là nhiệt độ lạnh đông của sản phẩm. Bởi vì khoảng nhiệt độ này là khoảng nhiệt độ đóng băng của nước tuỳ theo từng sản phẩm mà nhiệt độ đóng băng khác nhau. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH LẠNH Từ trước công nguyên con người tuy chưa biết làm lạnh, nhưng đã biết đến tác dụng của lạnh và ứng dụng chúng phục vụ cuộc sống. Họ đã biết dùng mạch nước ngầm có nhiệt độ thấp chảy qua để chứa thực phẩm, giữ cho thực phẩm được lâu hơn.
Người Ai Cập cổ đại đã biết dùng quạt cho nước bay hơi ở các hộp xốp đế làm mát không khí cách đây 2500 năm. Người Ấn Độ và người Trung Quốc cách đây 2000 năm đã biết trộn muối với nước hoặc với nước đá để tạo nhiệt độ thấp hơn. Kỹ thuật lạnh hiện đại phát triển khi giáo sư Black tìm ra ẩn nhiệt hoá hơi và ẩn nhiệt nóng chảy vào năm 1761- năm 1764. Con người đã biết làm lạnh bằng cách cho bay hơi chất lỏng ở áp suất thấp.
Ngày nay kỹ thuật lạnh đã có những bước phát triển vượt bậc, để làm lạnh có một số kỹ thuật như sau: • Bay hơi khuếch tán: Là hiện tượng nước bay hơi vào không khí chưa bão hòa. Đây là quá trình đẳng entanpy nên độ ẩm không khí tăng lên khi đó nhiệt độ sẽ giảm xuống. • Hòa trộn lạnh: Ứng dụng sự phản ứng hóa học ta sử dụng các muối pha trộn để làm lạnh. • Tiết lưu khí không sinh ngoại công (hiệu ứng Joule-Thomson): Có thể dãn nở khí không sinh ngoại công bằng cách tiết lưu chúng qua các cơ cấu tiết lưu từ áp suất cao P1 xuống áp suất thấp hơn P2, không có trao đổi nhiệt với môi trường để sinh lạnh.
• Dãn nở khí trong ống xoáy: Khi cho một dòng không khí áp suất 6 (bar) ở 20 (0C) thổi tiếp tuyến với thành trong của ống, vuông góc với trục ống phi 12 (mm) thì nhiệt độ ở thành ống tăng lên trong khi nhiệt độ ở tâm ống giảm xuống. Khi đặt một tấm chắn sát dòng thổi tiếp tuyến có đường kính lỗ < 12 (mm) thì gió lạnh sẽ đi qua tấm chắn gió còn gió nóng đi theo hướng ngược lại. Độ chênh lệch nhiệt độ lên đến 70 (K). Nhiệt độ phía Học viên: Nguyễn Thành Chương 3 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ lạnh đạt tới -12 (0C), phía nóng tới 58 (0C), áp suất sau khi giãn nở bằng áp suất khí quyển.
• Tan chảy hoặc thăng hoa vật rắn: Đây là phương pháp chuyển pha các chất tải lạnh như nước đá, nitơ lỏng và đá khô. • Bay hơi chất lỏng: Khi quá trình bay hơi chất lỏng diễn ra bao giờ nó cũng gắn liền với quá trình thu nhiệt. Nhiệt lượng cần thiết để bay hơi một kg chất lỏng gọi là nhiệt ẩn bay hơi r. Vì nhiệt ẩn bay hơi của chất lỏng bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều nhiệt ẩn hóa rắn nên hiệu ứng lạnh lớn hơn.
Chất lỏng bay hơi đóng vai trò là môi chất làm lạnh và chất tải lạnh quan trọng trong kỹ thuật lạnh. • Khử từ đoạn nhiệt: Đây là phương pháp sử dụng trong kỹ thuật cryô để hạ nhiệt độ của các mẫu thử từ nhiệt độ sôi của hêli xuống gần nhiệt độ không tuyệt đối. HỆ THỐNG TRAO ĐỔI NHIỆT SỬ DỤNG MÔI CHẤT LÀM LẠNH Môi chất lạnh là chất môi giới sử dụng trong chu trình nhiệt động ngược chiều để hấp thụ nhiệt của môi trường cần làm lạnh có nhiệt độ thấp và thải nhiệt ra môi trường có nhiệt độ cao hơn. Hệ thống trao đổi nhiệt sử dụng môi chất làm lạnh có nhiều hệ thống khác nhau, tuy nhiên tính thông dụng hiện nay là loại máy lạnh nén hơi, máy lạnh hấp thụ, máy lạnh nén khí, máy lạnh ejectơ.
Máy lạnh nén hơi Là loại máy lạnh có máy nén cơ để hút hơi môi chất có áp suất thấp và nhiệt độ thấp ở thiết bị bay hơi và nén lên áp suất cao và nhiệt độ cao đẩy vào thiết bị ngưng tụ. Môi chất lạnh trong máy lạnh nén hơi có biến đổi pha (bay hơi ở thiết bị bay hơi và ngưng tụ ở thiết bị ngưng tụ) trong chu trình máy lạnh. Máy lạnh nén hơi bao gồm 4 bộ phận chính là máy nén, thiết bị ngưng tụ, van tiết lưu và thiết bị bay hơi. Chúng được nối với nhau bằng đường ống như hình 1.
Môi chất lạnh tuần hoàn và biến đổi pha trong hệ thống lạnh. Các quá trình cơ bản bao gồm: 1. 1-2: quá trình nén đoạn nhiệt hơi hút. 2-3: quá trình ngưng tụ hơi nén ở áp suất cao và nhiệt độ cao.
3-4: quá trình tiết lưu lỏng đẳng entanpy. 4-1: quá trình bay hơi ở áp suất thấp và nhiệt độ thấp tạo hiệu ứng lạnh. Sơ đồ nguyên lý máy lạnh nén hơi: Học viên: Nguyễn Thành Chương 4 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ Hình 1. Máy lạnh nén hơi Các loại môi chất lạnh thường là amoniac và các loại freôn.
Tùy theo môi chất sử dụng trong máy lạnh mà hệ thống có đặc điểm riêng và cần một số thiết bị phụ riêng. Máy lạnh hấp thụ Là loại máy lạnh sử dụng năng lượng dạng nhiệt để hoạt động. Máy lạnh hấp thụ có các bộ phận ngưng tụ, tiết lưu và bay hơi giống như máy lạnh nén hơi. Riêng máy nén cơ được thay bằng một hệ thống bình hấp thụ, bơm dung dịch, bình sinh hơi và tiết lưu dung dịch.
Hệ thống thiết bị này chạy bằng nhiệt năng (như hơi nước, bột đốt nóng) thực hiện chức năng như máy nén cơ là “hút” hơi sinh ra từ bình bay hơi và nén nên được gọi là máy nén nhiệt. Máy lạnh hấp thụ Sơ đồ nguyên lý: máy lạnh hấp thụ gồm các thiết bị ngưng tụ, tiết lưu, bay hơi và các quá trình 2-3, 3-4, 4-1 giống như máy lạnh nén hơi. Riêng máy lạnh nén nhiệt có các thiết bị bình hấp thụ, bơm dung dịch, bình sinh hơi và van tiết lưu dung dịch bố trí như (hình 1. Ngoài môi chất lạnh, trong hệ thống còn có dung dịch hấp thụ làm nhiệm vụ đưa Học viên: Nguyễn Thành Chương 5 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ môi chất lạnh từ vị trí 1 đến vị trí 2.
Dung dịch sử dụng thường là amoniắc/nước và nước/liti-bromua. Nguyên tắc hoạt động: Dung dịch loãng trong bình hấp thụ có khả năng hấp thụ hơi môi chất sinh ra ở bình bay hơi để trở thành dung dịch đậm đặc. Khi dung dịch trở thành đậm đặc sẽ được bơm dung dịch bơm lên bình sinh hơi. Ở đây dung dịch được gia nhiệt với nhiệt độ cao (đối với dung dịch amoniắc/nước khoảng 1300C) và hơi amoniắc sẽ thoát ra khỏi dung dịch đi vào bình ngưng tụ.
Do amoniắc thoát ra, dung dịch trở thành dung dịch loãng, đi qua van tiết lưu dung dịch về bình hấp thụ tiếp tục chu kỳ mới. Ở đây, do vậy có hai vòng tuần hoàn rõ rệt. Vòng tuần hoàn dung dịch: HT (bình hấp thụ) – BDD (bơm dung dịch) – SH (bình sinh hơi) – TLDD (tiết lưu dung dịch) và trở lại HT. Vòng tuần hoàn môi chất lạnh 1 – HT – BDD – SH – 2 – 3 – 4 – 1.
Trong thực tế và đối với từng loại cặp môi chất: amoniắc/nước hoặc cặp môi chất nước/liti-bromua cũng như với yêu cầu hồi nhiệt đặc biệt máy có cấu tạo khác nhau. Máy lạnh nén khí Máy lạnh nén khí là loại máy lạnh có máy nén cơ nhưng môi chất dùng trong chu kỳ không thay đổi trạng thái, luôn ở thể khí. Máy lạnh nén khí có thể có hoặc không có máy dãn nở. Máy lạnh nén khí Nguyên tắc hoạt động: Học viên: Nguyễn Thành Chương 6 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ Máy nén và máy dãn nở thường kiểu turbin, lắp trên một trục.
Máy nén hút khí từ buồng lạnh 1 nén lên áp suất cao và nhiệt độ cao ở trạng thái 2 sau đó đưa vào làm mát ở bình làm mát nhờ thải nhiệt cho nước làm mát. Sau khi đã làm mát, khí nén được đưa vào máy dãn nở và được dãn nở xuống áp xuất thấp và nhiệt độ thấp rồi được phun vào buồng lạnh. Quá trình dãn nở trong máy dãn nở có sinh ngoại công có ích. Sau khi thu nhiệt của môi trường cần làm lạnh, khí lại được hút về máy nén khép kín chu trình lạnh.
Máy lạnh ejectơ Máy lạnh ejectơ là máy lạnh có quá trình nén hơi môi chất lạnh từ áp suất thấp lên áp suất cao được thực hiện nhờ ejectơ. Giống như máy lạnh hấp thụ, máy nén kiểu ejectơ cũng là kiểu máy nén nhiệt, sử dụng động năng của dòng hơi để nén dòng môi chất lạnh. Máy lạnh ejectơ Nguyên tắc hoạt động: Hơi có áp suất cao và nhiệt độ cao sinh ra ở lò hơi được dẫn vào ejectơ. Trong ống phun, thế năng của hơi biến thành động năng và tốc độ chuyển động của hơi tăng lên cuốn theo hơi lạnh ra ở bình bay hơi.
Hỗn hợp của hơi công tác (hơi nóng) và hơi lạnh đi vào ống tăng áp, ở đây áp suất hỗn hợp tăng lên do tốc độ hơi giảm xuống. Hỗn hợp hơi được đẩy vào bình ngưng tụ. Từ bình ngưng tụ, nước ngưng được chia làm hai đường, phần lớn được bơm nén về lò hơi còn một phần nhỏ được tiết lưu trở lại bình bay hơi để bay hơi làm lạnh chất tải lạnh là nước. Máy lạnh ejectơ có 3 cấp áp suất Ph > Pk > P0 là áp suất hơi công tác, áp suất ngưng tụ và áp suất bay hơi.
Trong thực tiễn hệ thống điều chỉnh và trao đổi nhiệt sử dụng môi chất lạnh được ứng dụng rất rộng rãi đó là các hệ thống điều hòa không khí. Mục đích sử dụng đa dạng dẫn Học viên: Nguyễn Thành Chương 7 Chuyên ngành: Kỹ thuật Điện tử Trường Đại học Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ đến hệ thống điều hòa cũng rất đa dạng cả về quy mô và lĩnh vực ứng dụng.