CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN CHÂU ĐỨC VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA CHÂU ĐỨC 1.1 Tổng quan về huyện Châu Đức: 1.1 Giới thiệu sơ lược về huyện Châu Đức: Huyện Châu Đức được thành lập và hoạt đồng từ tháng 8/1994 theo Nghị định số 45/1994/NĐ-CP ngày 02/6/1994 của Chính phủ, là một huyện nông nghiệp của tỉnh, phía bắc giáp huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, phía nam giáp huyện Đất Đỏ và Thành phố Bà Rịa, phía tây giáp huyện Tân Thành, phía đông giáp huyện Xuyên Mộc. Tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 42.456,61 ha, toàn huyện đến nay có 16 đơn vị hành chính, gồm 15 xã và 1 thị trấn Ngãi Giao. Dân số trung bình của huyện hiện nay khoảng 157.816 người, lao động trong độ tuổi là 101. Thổ nhưỡng: Hầu hết đất đai của huyện là đất đỏ, vàng và đen trên nền đất Bazan (chiếm tỷ lệ 85,8% tổng diện tích đất) thuộc loại đất rất tốt, có độ phì cao, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây lâu năm như: cao su, cà phê, tiêu, điều, cây ăn trái và các cây hàng năm như: bắp, khoai mì, đậu các loại, bông vải.
Đây thực sự là một thế mạnh so với các về bệnh viện Đa khoa Châu Đức.2 Lịch sử hình thành và quy mô bệnh viện: 1.1 Lịch sử hình thành: Bệnh viện Đa khoa Châu Đức được thành lập từ năm 1984. Hiện tại có đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu có trang bị thích hợp đủ khả năng khám chữa bệnh, thực hiện các kỹ thuật cao như: mổ nội soi trong lĩnh vục ngoại, sản, TMH, tán sỏi niệu qua nội soi ngược dòng bằng laser, mổ phaco điều trị đục thủy tinh thể,. Bên cạnh bệnh viện cũng có mã số đào tạo, có cán bộ có chứng chỉ sư phạm y học để tổ chức đào tạo liên tục và hỗ trợ chuyên môn cho các Bệnh viện tuyến huyện. Bệnh viện Đa khoa Châu Đức có quy mô 350 giường, được tổ chức thành 12 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng, 5 phòng chức năng.
Tổng số CBVC: 280. Tổ chức bộ máy của Bệnh viện gồm có: Ban giám đốc và 03 phòng chức năng và 16 khoa. Tình hình nhân lực của bệnh viện: - Tổng số nhân lực: 275 nhân viên. - Biên chế: 195 nhân viên.
4 do an - Hợp đồng: 80 nhân viên.2 Cơ cấu tổ chức: Với quy mô và số lượng công nhân viên như vậy để đảm bảo cho việc phục vụ công tác khám chữa bệnh tốt nhất thì việc phân công công việc và khu vực làm việc là yếu tố cần thiết góp phần cho sự phát triển của bệnh viện. Cơ cấu của bệnh viện gồm các khoa, phòng có nhiệm vụ và chức năng riêng nhưng đồng thời cũng có nhiệm vụ hỗ trợ nhau trong công tác quản lý và phát triển bệnh viện. 1: Cơ cấu tổ chức, phân bổ nhân sự của Bệnh viện Số cán Số Số điều Số dược STT Tên khoa phòng bộ bác sĩ dưỡng sĩ 1 Phòng Giám đốc 3 3 0 0 2 Phòng Tài chính kế toán 4 0 0 0 3 Phòng Điều dưỡng 3 0 3 0 4 Khoa Cấp cứu 18 4 10 4 5 Khoa Dược 10 1 4 5 6 Khoa Khám bệnh – BHYT 24 4 16 4 7 Khoa Ngoại tổng quát 10 2 8 0 8 Khoa Tai – Mũi - Họng 15 4 11 0 9 Khoa Ngoại Thận Tiết niệu 18 3 15 0 10 Khoa Ngoại Thần Kinh 23 8 15 0 11 Khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức 29 5 20 4 12 Khoa Nội tổng hợp tim mạch 18 3 12 3 13 Khoa Nội tổng hợp cơ xương 9 2 6 1 14 Khoa Nội tổng hợp 2 12 2 8 2 15 Khoa Chẩn đoán hình ảnh 12 2 10 0 16 Khoa Mắt 10 3 6 1 16 Khoa Vi sinh 12 4 6 2 17 Khoa Huyết học 6 3 2 1 18 Khoa Nhi – Sinh sản 30 7 18 5 19 Bảo vệ 9 0 0 0 5 do an CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC TÍNH CỦA NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN, CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 2.1 Nguồn gốc nước thải bệnh viện: Trong quá trình hoạt động của bệnh viện thì hầu hết các khâu đều sử dụng nước và tất nhiên sẽ phát sinh ra nước thải. Tùy theo đặc điểm của từng bộ phận mà tính chất nước thải sinh ra khác nhau.
Tuy nhiên sự khác biệt này cũng không quá lớn. Do đó để đơn giản hóa trong quá trình thu gom nước thải và thuận tiện cho quá trình tính toán thiết kế, có thể xem là như nhau. Nhìn chung thì nước thải bệnh viện phát sinh từ các nguồn: Nước thải y tế phát sinh từ các phòng khám, phòng phẫu thuật, phòng thí nghiệm, xét nghiệm và các khoa trong bệnh viện. Nước thải này chứa nhiều vi khuẩn, mầm bệnh, máu, các hóa chất, dung môi trong dược phẩm…, từ phòng thanh trùng dụng cụ y khoa với nhiệt lượng cao, từ nhà giặt tẩy… Nước thải sinh hoạt sinh ra từ toilet, bể tự hoại, nước rửa tay, tắm giặt… của cán bộ công nhân viên bệnh viện, khu nội trú, người nuôi bệnh, người thăm bệnh, người đến khám bệnh.
Nước thải sinh hoạt cũng phát sinh từ căn tin, bếp ăn tập thể… Nước thải thoát ra từ khu giặt giũ của bệnh viện. Nước mưa chảy tràn trên toàn bộ diện tích khuôn viên của bệnh viện.2 Thành phần và tính chất của nước thải bệnh viện: 2.1Tính chất vật lý: Màu chủ yếu phát sinh từ màu của các hóa chất như dung dịch thuốc dùng để điều trị bệnh, đặc biệt là trong khu vực phòng mổ, nước thải có màu của máu phát sinh từ quá trình mổ và rửa các dụng cụ phẫu thuật. Mùi sinh ra do quá trình thối rữa các loại bệnh phẩm có nguồn gốc hữu cơ còn sót lại do việc thu gom chất thải không triệt để. Chất rắn bao gồm các loại bệnh phẩm có nguồn gốc hữu cơ còn sót lại như: bông băng, các bộ phận cơ thể bị bệnh của người cắt lọc ra…(có kích thước rất nhỏ nên không thể thu gom.2 Thành phần hóa học của nước thải bệnh viện: Thành phần hữu cơ chủ yếu là các chất sinh ra trong quá trình phân rã tự nhiên các chất hữu cơ từ các bệnh phẩm.
6 do an Thành phần vô cơ chủ yếu là các thành phần vô cơ có trong các dung dịch thước dùng trong quá trình điều trị. Thành phần sinh học bao gồm các vi sinh vật, vi khuẩn gây bệnh. Theo các số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu trên thế giới, hàm lượng các chất ô nhiễm gồm: -Chất rắn tổng cộng (TS): Hòa tan (TDS), Lơ lửng. -Chất rắn lắng được -BOD5 -Tổng lượng cácbon hữu cơ -COD -Tổng nitơ (tính theo N) -Tổng photpho (tính theo P): Hữu cơ, Vô cơ.
-Tổng Coliforms Bảng 2.1 : Giá trị điển hình của các chỉ tiêu của nước thải bệnh viện Giá trị Giá trị C STT Thông số Đơn vị điển hình A B 1 pH - 6-8 6.5 2 BOD5 (20oC) mg/l 150 - 450 30 50 3 COD mg/l 300 – 500 50 100 4 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 100 – 300 50 100 5 Sunfua (tính theo H2S) mg/l CXĐ 1.0 6 Amoni (tính theo N) mg/l 15 – 30 5 10 7 Nitrat (tính theo N) mg/l 50 – 80 30 50 8 Phosphat (tính theo P) mg/l 10 – 20 6 10 9 Dầu mỡ động thực vật mg/l CXĐ 10 20 10 Tổng hoạt độ phóng xạ α Bq/l CXĐ 0.1 11 Tổng hoạt độ phóng xạ β Bq/l CXĐ 1.0 MPN/ 12 Tổng coliforms 105 – 107 3000 5000 100ml 2.3 Các chất gây ô nhiễm chính của nước thải bệnh viện: Nước thải bệnh viện ngoài các yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn, còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các phế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. 7 do an Việc sử dụng rộng rãi các chất tẩy rửa (chất hoạt động bề mặt) ở xưởng giặt của bệnh viện cũng tạo nguy cơ thực tế làm xấu đi mức độ hoạt động của công trình xử lý. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong nước thải làm xấu đi khả năng tạo huyền phù trong bể lắng, và đa số vi khuẩn tụ tập lại trong bọt. Những chất tẩy rửa riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình làm sạch sinh học nước thải: chất tẩy rửa anion tăng lượng bùn hoạt tính, chất tẩy rửa cation làm giảm lượng bùn hoạt tính đi.
Bên cạnh đó, điểm đặc thù của nước thải bệnh viện là sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh. Những nguồn nước thải bệnh viện này là một trong những nhân tố cơ bản có khả năng lan truyền vào nước thải những tác nhân truyền nhiễm qua đường tiêu hóa và làm ô nhiễm môi trường. Đặc biệt nguy hiểm khi nước thải bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải. Tuy nhiên, đối với nước thải mang tính chất đặc trưng của các bệnh viện, nếu chỉ sử dụng quá trình xử lý bằng phương pháp sinh học đơn thuần sẽ khó có thể giải quyết được các nguy cơ gây bệnh cũng như các chất khó phân hủy sinh học như thuốc kháng sinh, chất hoạt động bề mặt.
Vì vậy để đảm bảo nước sau xử lý không chỉ đạt các chỉ tiêu thông thường về vi sinh mà còn bảo đảm được các chỉ tiêu về hóa học như các chất hữu cơ khó (không) phân hủy sinh học, công nghệ tích hợp sẽ được áp dụng vào quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp kết hợp quá trình hóa và quá trình sinh học để khử dư lượng thuốc kháng sinh cũng như chất hoạt động bề mặt (chất tẩy rửa) mà không thể tự phân hủy sinh học.4 Ảnh hưởng của nước thải bệnh viện đến nguồn tiếp nhận: Nước thải bệnh viện có hàm lượng chất rắn lơ lửng lớn, độ hoà tan oxy thấp, hàm lượng các chất hữu cơ cao (đặc trưng bởi COD, BOD) và đặc biệt là chứa nhiều vi sinh vật nhất là sinh vật gây bệnh truyền nhiễm. Do đó, nếu không có các biện pháp xử lý hiệu quả sẽ dễ gây ra các tác tác động đối với môi trường xung quanh: Nước thải bệnh viện có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao, làm nước biến màu và mất oxy, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước tiếp nhận, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ vực của nguồn nước tiếp nhận.