mở đầu cho DTC được chuẩn hóa vào năm 1989 • OBD-II bổ xung những thử nghiệm khác để kiểm tra hoạt động của hệ thống xả trong động cơ vào năm 1996 • OBD-III đưa vào những tính năng mới và mở ra một thời kỳ phát triển có qui luật The CARB (California Air Resources Board) là những hoạt động hàng đầu trong hệ thống qui tắc của OBD. Liên minh châu âu, Nhật Bản và các tổ chức chính phủ khác cũng có những đòi hỏi về OBD riêng biệt. Hiệp hội kỹ sư cơ giới - SAE (Society of Automotive Engineers) - chuẩn hóa DTC cho tất cả các nhà sản xuất xe trên toàn thế giới. Ngoài ra, mỗi nhà sản xuất có thể mở rộng các khả năng của OBD bằng các DTC của riêng họ.
OBD chữ viết tắt của On-Board Diagnostics, đã xuất hiện trên hầu hết các phương tiện cơ giới từ năm 1981. Thế hệ đầu tiên của OBD (hay OBD-I) được thiết kế ban đầu như một công cụ giám sát các hệ thống khác nhau trên một phương tiện cơ giới (ví dụ: hệ thống phun nhiên liệu, hệ thống đánh lửa, hệ thống xả, v.v) và báo các sự cố mà nó tìm thấy. Trong khi phương tiện cơ giới đó khởi động, một máy tính sẽ kiểm tra lỗi và kích hoạt đèn báo sự cố MIL trên bảng điều khiển để Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 -8- cảnh báo người lái về một lỗi nào đó được phát hiện. Tại thời điểm đó, máy tính được lập trình để tạo và lưu trữ các mã số báo lỗi (hai hoặc ba số) có liên quan đến lỗi đó, điều này khiến thiết bị truy xuất mã lỗi trở nên hữu ích.
OBD-I chiếm lĩnh trong suốt các năm từ 1981 cho đến 1993. OBD-I không còn được nhắc tới khi có sự bùng phát của OBD-II. Thế hệ thứ hai này của OBD được đưa ra trên toàn thế giới vào năm 1996 do áp lực từ phía các chính phủ trong vấn đề giảm tải ô nhiễm khí thải từ các phương tiện cơ giới. Hệ thống OBD-II có thể thấy trên các xe từ năm 1996 cho đến nay.
Hệ thống này hiện nay có nhiều cải tiến hơn và gọn hơn so với phiên bản đầu tuy nhiên những tiêu chuẩn thì vẫn như cũ. Máy tính vẫn kiểm soát các hệ thống trên xe để rà soát lỗi, máy tính của xe sẽ vẫn sử dụng một đèn báo sự cố MIL để cảnh báo người lái xe về các trục trặc, và lưu trữ các mã số để xác định hệ thống chấp hành hay mạch điện có sự cố. Lịch sử của các hệ thống chẩn đoán • 1970: Nước Mỹ thay thế tổ chức Hoạt động vì sự trong lành của khí quyển và lập ra cơ quan Bảo vệ Môi trường. • 1980: Các máy tính bắt đầu xuất hiện trên các xe cơ giới, được phát triển rộng rãi cho những ứng dụng về thời gian điều chỉnh tại các hệ thống bơm xăng mặc dù chưa có sự chuẩn hóa trong việc giám sát hoặc thông báo.
• 1982: Các động cơ trong xe thực hiện việc chuẩn hóa bên trong hệ thống chuẩn đoán gọi là Assembly Line Communications Link (ALCL), sau này đổi thành Assembly Line Diagnostics Link (ALDL). Giao thức ban đầu ALCL truyền thông với tốc độ 160 baud với dạng tín hiệu PWM • 1986: Phiên bản nâng cấp ALDL xuất hiện với tốc độ truyền thông 8192 baud 2 chiều tín hiệu UART. Giao thức này được định nghĩa trong GM XDE-5024B. • 1987: Bắt đầu xuất hiện hệ thống chuẩn đoán, 1 K-line cho tất cả các ECU, ISO 9141-1, RB-KW71, mã nháy (Blink code) • 1989: Opel Keyword 81 • 1992: Opel Keyword 82 Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 -9- • 1994: 4 separate K-Lines SAE J 1962-Diagnostic Connector (ISO 15031-3) • 1996: KWP 2000, Flash Programming • 1997: OBD II: ISO 9141-2, US-Cadillac Catera • 2000: EOBD: ISO 14230-4 Diagnostics via KWP 2000 • 2002: Diagnostics on CAN incl.
EOBD • 2008: Tất cả các xe được bán tại Mỹ sẽ được yêu cầu sử dụng chuẩn tín hiệu ISO15765-4 (Một dạng CAN bus mới). MỤC TIÊU CỦA ODB-II Những nội dung mang tính bắt buộc của hệ thống OBD-II là yêu cầu các nhà sản xuất ôtô phải thiết kế những hệ thống điều khiển quá trình xả có độ tin cậy nhất định để xe có “một vòng đời hiệu quả”. Hoạt động của quá trình xả trên mỗi phương tiện cơ giới ngày một kém đi và ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như là tuổi của xe, số quãng đường mà xe đã qua, việc sử dụng xe, địa hình hoạt động và thiết kế của xe. Các tính năng tinh tế nhất của một hệ thống OBD-II là nó xác định được khi nào thì hoạt động của quá trình xả của một xe đã bị hư tổn ở dưới một mức qui định, khi đó đèn báo sự cố MIL hoặc đèn báo kiểm tra sẽ bật sáng.
Tại Canifornia, việc cấp phép trở lại cho một phương tiện cơ giới sẽ bị từ chối nếu như kiểm tra thấy MIL báo sáng. Bắt đầu từ năm 1996, các nhà sản xuất sẽ chịu trách nhiệm sửa chữa các thiết bị hỏng được báo lỗi qua MIL, miễn là các phương tiện cơ giới đó đang trong thời hạn bảo hành hệ thống xả. Mỗi nhà sản xuất được tự do sử dụng các kỹ thuật riêng của mình miễn sao nó phải phù hợp với những qui định của hệ thống OBD-II. Điều này hạn chế đáng kể các nhà sản xuất ô tô thiết kế một hệ thống kiểm soát quá trình xả mà có tuổi thọ không cao.
CÁC ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT VÀ GIAO THỨC TRUYỀN THÔNG 3.1 Tầng vật lý: Thực chất là cổng giao tiếp OBD II gắn trên xe Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 - 10 - Hệ thống ODB-II quy định rõ ràng về một tiêu chuẩn giao tiếp phần cứng, giắc giao tiếp là một giắc cái 16 chân (2x8) J1962 (hay còn gọi là giắc hình thang). Không giống như giắc giao tiếp của ODB-I, giắc giao tiếp của ODB-II có vị trí đặt được quy định là bên phải tay lái gần bảng điều khiển trung tâm (thường là ngay phía dưới của tay lái). Tiêu chuẩn SAE J1962 định nghĩa các chân của giắc giao tiếp như sau : Các chân không chỉ rõ chức năng là: 1, 3, 8, 9, 11, 12, 13 được sử dụng cho các tín hiệu quy định riêng của nhà sản xuất nhằm phục vụ cho việc kiểm tra xe khi không sử dụng thiết bị chuẩn đoán kiểm tra theo OBD-II. Khi một xe tuân thủ theo một tiêu chuẩn truyền thông ODB-II thì chỉ có các chân sử dụng trong chuẩn truyền thông đó có chức năng theo sơ đồ trên, còn lại các chân khác được nhà sản xuất sử dụng theo quy định riêng.
Ví dụ: Toyota Corolla Altis sử dụng tiêu chuẩn truyền thông ISO 9141-2 (K-line) thì chỉ có 2 chân 4, 5, 7, 15 và 16 là theo sơ đồ trên, còn lại tuân theo quy định của hãng như : chân 13 là chân Tc, chân 14 là chân Ts (do bản chất của nhà SX)… Tiêu chuẩn SAE J1962 quy định kích thước của giắc giao tiếp như sau: Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 - 11 - EXTERNAL TEST EQUIPMENT CONNECTOR 3. 2 Tầng dữ liệu: Giao thức truyền thông của ECU với thiết bị ngoại vi thông qua cổng ODB-II Bộ điều khiển kỹ thuật số ECU (Electronic Control Unit) là thiết bị cho phép kết nối các hệ thống cơ khí và điện tử trên xe ôtô, phân tích và tính toán các số liệu để điều khiển động cơ ôtô chạy hiệu quả nhất theo từng chế độ (chạy trên đường trường hay chạy trong phố.) nhằm giảm tối đa lượng khí xả độc hại phát ra môi trường. Có rất nhiều loại mạng khác nhau trên các phương tiện cơ giới. Các phương tiện vận tải nhẹ và các phương tiện vân tải nặng sử dụng các loại mạng khác nhau.
Các nhà sản xuất khác nhau cũng sử dụng các loại mạng và các giao thức khác nhau. Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 - 12 - Một số các giao thức mạng được thiết lập và được các nhà sản tuân thủ theo. Việc có đầy đủ các giao thức mạng giúp các nhà sản xuất có sự lựa chọn riêng cho mình sao cho phù hợp nhất với các hệ thống của mình. Bang Canifornia – Mỹ đã đưa ra các tiêu chuẩn thống nhất cho hệ thống mạng trên xe khi họ đặt ra cá yêu cầu cho hệ thống ODB-II.
Họ đã đưa ra các khái niệm về một giao thức truyền dữ liệu và một giao tiếp chuẩn cho các phương tiện cơ giới, nhằm cho phép một thiết bị truy xuất (gọi là công cụ quét – Scan tool) có thể kết nối tới máy tính trên xe và kiểm tra xem xe đó có nồng độ khí xả ở mức ô nhiễm nào, các thông tin nhận được từ máy tính trên xe sẽ được hiển thị trên màn hình của thiết bị truy xuất., đồng thời thiết bị này cũng có thể truy xuất các thông tin của xe hay truy xuất và xóa các mã lỗi được lưu trữ trên xe,…Hiện nay người ta đang đưa ra đề xuất về một hệ thống ODB-III sẽ cho phép xe tự động đưa ra thông báo về mức độ ô nhiễm thông qua radio. Tại Châu âu người ta cũng đang tạo ra phiên bản riêng của ODB-II với tên EODB. Tiêu chuẩn ODB-II quy định giao thức truyền dữ liệu và kết nối vật lý riêng cho mình. Nó cho phép sử dụng các giao thức điện tử khác nhau là : J1850 PWM, J1850 VPW, ISO 9141-2, KWP2000 – hay ISO 14230 và CAN.
Việc có thể cho phép sử dụng khá nhiều các giao thức điện tử khác nhau làm cho ODB-II có rất nhiều điểm nổi bật. Các định nghĩa sau cho chúng ta thấy sự khác biệt của hệ thống tuân theo ODB-II và các hệ thống khác. Tóm lược các chuẩn truyền thông thường sử dụng trong các thiết bị cơ giới: Các chuẩn truyền thông cơ bản thông qua hai tầng vật lý và tầng dữ liệu trong giao tiếp truyền thông. • J1850 VPW (Variable Pulse Width): chuẩn truyền thông có tốc độ 10.4 Kbps, chủ yếu sử dụng cho các xe của hãng General Motor coi là Class 2.
Nó là giao thức sử dụng 1 dây đơn. Phùng Quốc Hưng-Đo Lường & Các Hệ Thống Điều Khiển Cao học 2004-2006 - 13 - • J1850 PWM (Pulse Width Modulated): chuẩn truyền thông có tốc độ 41.6 Kbps chủ yếu sử dụng cho các xe của hãng Ford. Nó là giao thức sử dụng dây kép. • ISO 9141-2 : chuẩn truyền thông không đồng bộ, với tốc độ 10.4 Kbps, sử dụng cho các xe của Chrysler và Mazda, và các phương tiện của châu Âu và châu Á.