CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU ĐÔ THỊ AN ĐỒNG 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 1. Vị trí địa lý Hải Phòng nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Huyện An Dương là một huyện nằm ở phía Tây thành phố Hải Phòng, được tách ra từ huyện An Hải cũ từ năm 2002.
Huyện An Dương giáp với tỉnh Hải Dương ở phía Tây và Tây Bắc, giáp với huyện An Lão ở phía Tây Nam, giáp với quận Kiến An ở phía Nam, huyện Thuỷ Nguyên ở phía Bắc, quận Hồng Bàng và quận Lê Chân ở phía Đông Nam. THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Hiện trạng kinh tế Thành phố Hải Phòng gồm 7 quận trung tâm (Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hồng Bàng, Hải An, Dương Kinh và Đồ Sơn) và 8 huyện (Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thuỷ Nguyên, An Lão, Kiến Thụy, An Dương, Cát Hải, Bạch Long Vỹ). Huyện An Dương gồm có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn An Dương và 15 xã: Lê Thiện, Đại Bản, An Hoà, Hồng Phong, Tân Tiến, An Hưng, An Hồng, Bắc Sơn, Nam Sơn, Lê Lợi, Đặng Cương, Hồng Thái, Đồng Thái, Quốc Tuấn, An Đồng.
An Dương là một huyện ven nội thành Hải Phòng, có nền kinh tế tổng hợp với các ngành CN-TTCN, thương mại, dịch vụ và nông nghiệp đều phát triển. Tuy không có danh lam thắng cảnh tự nhiên đẹp như Đồ Sơn, Cát Bà. song An Dương lại là một cửa ngõ trọng yếu mà khách du lịch đến thành phố Hải Phòng bằng đường sắt và đường bộ hầu hết đều phải đi qua. Năm 2008, kinh tế xã hội An Dương tiếp tục giữ vững nhịp độ tăng trưởng.
Giá trị SXCN ước thực hiện là 90,2 tỷ đồng, so với kế hoạch giao năm 2008 là 202 tỷ, đạt 44,65% và so với cùng kỳ năm 2007 đạt 122,39%, giá trị xây dựng đạt 98,5 tỷ đồng, 5 Đồ án tốt nghiệp so với kế hoạch bằng 50%, tốc độ tăng trưởng đạt 16,5%. Tổng giá trị thương mại - dịch vụ ước đạt 185 tỷ đồng, tăng 20,36% so với cùng kỳ năm 2007. Cơ sở hạ tầng Do có hệ thống giao thông thuận lợi, kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ như điện, đường, trường, trạm, nên huyện đã sớm hình thành các KCN lớn như phía Bắc có khu công nghiệp Nomura, cụm công nghiệp Bến Kiền, phía Tây có khu công nghiệp Hải Phòng - Sài Gòn đang xây dựng, phía Nam sẽ xây dựng khu công nghiệp Đặng Cương. Với tổng diện tích đất tự nhiên là gần 10.000 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 7.500 ha, dân số của Huyện có gần 150.009 Công ty TNHH và Công ty CP đóng trên địa bàn huyện, 13 HTX, 224 hộ cá thể và hàng ngàn hộ kinh doanh cá thể khác.
An Dương tuy còn phảng phất bóng dáng một huyện nông nghiệp nhưng về cơ bản đã có nền công nghiệp, thương mại và dịch vụ rất phát triển. Với thế mạnh này, An Dương không chỉ đóng góp tích cực vào nền kinh tế Hải Phòng, mà còn làm tốt công tác an sinh xã hội, giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động trong toàn huyện. Hiện tại, An Dương có 100% đường giao thông các xã, thị trấn được rải nhựa, các ngõ xóm từng bước được bê tông hóa, có 31/56 trường được công nhận chuẩn quốc gia, các nhà trẻ được xây dựng và sửa chữa đảm bảo tính mỹ quan, xứng đáng là môi trường trong lành cho mầm non đất nước, có 16 trạm y tế xã, thị trấn được công nhận chuẩn quốc gia. Nói đến An Dương, người ta còn ví như một chiếc áo giáp của thành phố Hải Phòng.
Vì vậy, mọi sự phát triển, tăng trưởng của An Dương đều ảnh hưởng trực tiếp đến thành phố Cảng. Sự phát triển của các khu công nghiệp và các nhà máy đã là tiền đề để ngành thương mại - dịch vụ của huyện phát triển. Các loại hình dịch vụ mới ra đời nhiều và có chiều hướng phát triển ổn định đã góp phần thúc đẩy mạng lưới dịch vụ thương mại, xây dựng, bưu chính viễn thông của huyện phát triển nhanh chóng. Toàn huyện có 15 điểm bưu điện văn hóa xã với 21.500 thuê bao cố định và 7.800 cố định không dây, bình quân 17 máy/100 dân.
Để chuẩn bị cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, thì điện phải đi trước một bước. Trong những năm gần đây, hệ thống điện nông thôn của huyện được nâng cấp, cải tạo tốt, đáp ứng kịp thời về chất lượng, số lượng 6 Đồ án tốt nghiệp không chỉ với điện dùng trong sản xuất mà còn cả trong sinh hoạt, tiêu dùng. Hiện nay, 100% số hộ dân trong huyện được dùng lưới điện quốc gia, toàn huyện có 109 trạm biến áp với tổng công suất 22.190 kVA, 18 đơn vị cung ứng điện. Với “vốn liếng” này, bước đầu, ngành điện đã đáp ứng được nhu cầu hiện nay của toàn huyện.
Không những thế, An Dương còn là một huyện sớm được cấp nước sạch, với khoảng trên 80% dân số được sử dụng nước sạch, vệ sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và chế biến, bảo quản hàng hóa nông sản. Song hành cùng sự phát triển của kinh tế huyện, ngành xây dựng An Dương cũng đang đà đi lên, phấn đấu đủ năng lực xây dựng các cơ sở hạ tầng đảm bảo chất lượng như giao thông nông thôn, xây dựng các nhà công sở, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo. đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật và cảnh quan quy hoạch kiến trúc. Điều này càng hỗ trợ cho các dự án lớn như đường giao thông, dự án các khu cấp đất dân cư và đặc biệt, các công trình trọng điểm của Huyện được chú trọng đầu tư hơn, làm cơ sở thúc đẩy cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
Hiện trạng dân cư Huyện An Dương rộng 98,3196 km2 và có gần 150 ngàn dân (năm 2008) Mật độ dân số 1526 người/km2 Tốc độ tăng trưởng dân số 1,5 % 1. Phương hướng phát triển kinh tế xã hội 1. Phương hướng phát triển kinh tế Năm 2009 và các giai đoạn tiếp theo, An Dương tiếp tục chú trọng phát triển các ngành có thế mạnh, đồng thời, phát triển kinh tế hợp tác xã kết hợp với ứng dụng khoa học công nghệ, nhằm tạo môi trường sản xuất ổn định và hiệu quả, gắn kết với phát triển các ngành nghề, làng nghề, góp phần phát triển ngành Công thương phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xây dựng huyện phát triển nhanh, toàn diện, vững chắc, với cơ cấu kinh tế “Công nghiệp xây dựng - Dịch vụ thương mại - Nông nghiệp” cùng phát triển. Phương hướng phát triển xã hội 7 Đồ án tốt nghiệp - Trong những năm tiếp theo huyện tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng hoàn thiện hệ thống đường giao thông trong thôn xóm, phấn đấu đến năm 2010 có 100% đường thôn xóm được bê tông hoá.
- Đẩy mạnh quá trình đô thị hoá tại các xã ven các quận nội thành nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhà ở, vui chơi giải trí cho nhân dân. Hiện trạng mặt bằng khu đô thị An Đồng Khu đô thị An Đồng nằm trong dự án đô thị hoá của ban quan lý dự án thành phố được quy hoạch trên một diện tích nhỏ khoảng 50 ha, thuộc địa phận xã An Đồng - An Dương - Hải Phòng. Cơ sở hạ tầng khu đô thị được xây dựng từ năm 2006 dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng hoàn toàn vào năm 2011. Khu đô thị đưa vào sử dụng dự kiến sẽ đáp ứng nhu cầu nhà ở cho khoảng hơn 500 hộ dân.
Mặt bằng khu đô thị được cắt đôi bởi tỉnh lộ 188 trong đó cơ sở hạ tầng có thể được phân loại như sau: - Khu biệt thự cao cấp có tổng diện tích khoảng 6,1 ha chiếm khoảng 10,5% diện tích khu đô thị. Khu này được phân chia thành các lô đất phục vụ nhu cầu đất ở cho các hộ giàu có nhu cầu. Các biệt thự được xây dựng kiểu nhà vườn có kiến trúc hiện đại từ 3 - 4 tầng. - Khu chung cư 6 tầng được quy hoạch tập trung về phía Đông Nam khu đô thị với tổng diện tích trên mặt bằng là 4,7 ha chiếm khoảng 8,13% diện tích toàn khu đô thị.
Khu này là các dãy nhà cao tầng gồm nhiều đơn nguyên trong đó các phòng được thiết kế giống nhau. Khu chung cư đáp ứng nhu cầu nhà ở cho khoảng 360 hộ gia đình với mức sống thường từ trung bình đến khá giả. - Nhà trẻ được xây dựng phía Tây Bắc khu đô thị. Nhà trẻ được thiết kế kết hợp vườn trẻ và xây dựng trên một diện tích khoảng 5800 m2 trong đó bao gồm nhà bảo vệ, nhà trẻ thiết kế 1 tầng và khu công viên vui chơi của các cháu.
- Khu đô thị có một nhà hàng bách hoá được bố trí xen giữa các khu dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu mua bán hàng ngày của nhân dân. Nhà hàng bách hoá được thiết kế gồm 2 tầng có tổng diện tích sử dụng khoảng 8500 m2. 8 Đồ án tốt nghiệp - Khu nhà hàng và chợ được quy hoạch gần khu chung cư cao tầng. Nhà hàng là nơi phục vụ nhu cầu ăn uống cho cán bộ, công nhân khu công nghiệp và những người dân có nhu cầu.
Nhà hàng còn là nơi phục vụ tổ chức tiệc cưới, hỏi … Khu chợ có diện tích khoảng 4000 m2 được chia thành nhiều gian hàng nhỏ có thiết kế mái che. - Khu công viên thể thao chiếm một diện tích khá lớn trên mặt bằng khu đô thị với 7,25 ha (chiếm 12,5% diện tích khu đô thị). Khu thể thao bao gồm: + Sân vận động cấp huyện với sức chứa khoảng 10. Phụ tải điện chủ yếu là chiếu sáng, ngoài ra các phòng điều hành có thêm quạt, điều hoà không khí.
+ Nhà thi đấu được xây dựng nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thể dục thể thao cấp huyện. Nhà thi đấu được xây dựng trên một diện tích 4200 m 2. Phụ tải điện ở đây ngoài phục vụ chiếu sáng, quạt mát còn có các thiết bị âm thanh, máy lạnh trong các phòng điều hành, các thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh như máy hút bụi, máy thông gió… + Bể bơi và khu phục vụ bể bơi được quy hoạch trên một diện tích khoảng 2500 m2. Phụ tải điện chủ yếu là chiếu sáng và các máy bơm (công suất nhỏ).
+ Khu vực sân tennis gồm 3 sân, mỗi sân được xây dựng trên diện tích khoảng 600 m2. Sân tennis có yêu cầu về chiếu sáng rất cao để có thể phục vụ cả buổi tối.