Chương 1– TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN NG-SDH 1.1 Giới thiệu chung về công nghệ NG-SDH Trong sự phát triển của các hệ thống viễn thông giai đoạn hiện nay, mạng truyền dẫn quang đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống truyền tải lõi dung lượng lớn và tốc độ cao, cho phép cung cấp đa dịch vụ trên một nền tảng truyền dẫn trong suốt. Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ trong lĩnh vực điện tử viễn thông và công nghệ thông tin đã tạo ra những bước nhảy vọt về công nghệ truyền dẫn quang. Các sản phẩm thế hệ mới trong lĩnh vực truyền dẫn quang liên tục được các hãng cung cấp thiết bị viễn thông trên toàn thế giới nâng cấp, thay đổi và phát triển, đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng về băng thông, loại hình và chất lượng dịch vụ. Mạng truyền dẫn quang về cơ bản được phân lớp rất rõ ràng dựa trên dung lượng truyền tải và công nghệ sử dụng.
Trong mô hình mạng truyền dẫn quang hiện nay, lớp truyền tải lõi sử dụng các công nghệ truyền dẫn quang OTN và DWDM thường được ứng dụng cho các trục lưu lượng dung lượng lớn xuyên suốt, lớp truy nhập thường sử dụng các công nghệ truyền tải tốc độ thấp hơn như SDH, NG-SDH, sử dụng gom các luồng lưu lượng tốc độ thấp thành các luồng lưu lượng tốc độ cao để ghép vào tuyến trục. Một số xu hướng phát triển của dịch vụ viễn thông được chú ý như: Sự bùng nổ của các dịch vụ trên Internet; sự tích hợp dịch vụ trên cùng thiết bị; khả năng di động và chuyển vùng; yêu cầu về QoS theo dịch vụ mà người dùng yêu cầu. Chính vì thế có thể thấy xu hướng sử dụng dịch vụ trên thế giới sẽ phát triển ngày càng cao theo nhu cầu người dùng…Điều này dẫn tới các thiết bị được sử dụng đều phải đáp ứng công nghệ hiện đại, dung lượng lớn, chất lượng cao, khai thác đơn giản, thuận tiện và mang lại hiệu quả kinh tế. Trong khi đó, công nghệ SDH trước đây bộc lộ nhiều hạn chế do sự bó hẹp về tốc độ cũng như khả năng tích hợp dịch vụ.
Chính vì thế công nghệ NG-SDH được phát triển dựa trên nền mạng SDH hiện tại, là một cơ chế cho phép truyền dữ Luan van 4 liệu ở tốc độ cao, băng thông rộng và tích hợp đồng thời các dịch vụ truyền thống và các dịch vụ mới trên cùng một mạng mà không làm ảnh hưởng lẫn nhau. Điều quan trọng nhất ở NG-SDH là sự phát triển một số công nghệ mới trên nền tảng SDH truyền thống mà không thay đổi cấu trúc mạng sẵn có, vốn đã tương tối hoàn thiện bằng cách bổ sung một số thiết bị phần cứng và các thủ tục cũng như giao thức mới. Chính vì điều đó NG-SDH cho phép bổ sung các dịch vụ mới và khả năng truyền tải đồng thời nhiều loại dịch vụ khác nhau trong cùng một môi trường bằng cách lắp đặt thêm các MSPP ở nút truy nhập cả hệ thống SDH hiện có. Điều đó đồng nghĩa với việc không cần lắp đặt một mạng chồng lấp hoặc thay đổi tất cả các nút hay sợi quang.
Do đó đã cắt giảm được chi phí trong lắp đặt triển khai công nghệ NG-SDH trên hệ thống viễn thông.1: Tổng quan mạng truyền dẫn ứng dụng công nghệ NG-SDH Nhu cầu phát triển của NG-SDH chính là mong muốn tìm ra một phương thức đơn giản có khả năng thích ứng với bất kỳ giao thức dữ liệu gói nào và có thể sử dụng băng thông hiệu quả. Nói cách khác là cần một lớp giao thức thích ứng và một cơ chế sắp xếp mới để điều khiển việc sử dụng băng thông. Từ đó tạo nên tính linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả trong tích hợp nhiều dịch vụ của công nghệ NG- SDH được trình bày ở hình 1. Luan van 5 Hình 1.2: Sơ đồ ứng dụng của dịch vụ thông qua công nghệ NG-SDH Như trên hình 1.2 ta thấy, các dịch vụ khác nhau như Mobile, 3G, VoIP trên nền tảng IP và truyền tải trên nền tảng công nghệ NG-SDH.
Một số dịch vụ mà NG- SDH cung cấp bao gồm: Dịch vụ dữ liệu gói, dịch vụ sử dụng giao diện TDM và một số chức năng mới. Vấn đề mấu chốt để công nghệ NG-SDH đáp ứng được bài toán tích hợp dịch vụ đó chính là bổ sung 3 giao thức chính: Thủ tục đóng khung tổng quát GFP, kỹ thuật liên kết chuỗi ảo VCAT và cơ cấu điều chỉnh dung lượng tuyến LCAS. Những giao thức kể trên đã được ITU-T chuẩn hóa bởi các tiêu chuẩn G. - Giao thức GFP cung cấp thủ tục đóng gói khung dữ liệu có lưu lượng khác nhau (Ethernet, IP/PPP, RPR, kênh quang.) vào các phương tiện truyền dẫn TDM như là SDH hoặc hệ thống truyền tải quang OTN.
- Giao thức VCAT cung cấp những thủ tục cài đặt băng thông cho kênh, cho phép mềm dẻo hơn so với những thủ tục áp dụng trong hệ thống truyền dẫn TDM trước đó. - Giao thức LCAS cung cấp thủ tục báo hiệu đầu cuối tới đầu cuối để thực hiện chức năng điều chỉnh động dung lượng băng thông của các kết nối khi sử dụng VC. Bên cạnh đó còn một số giao thức hỗ trợ khác. Luan van 6 Hình 1.3: Các giao thức được sử dụng trong NG-SDH 1.1 Giao thức đóng khung GFP GFP là một kỹ thuật đóng khung được định nghĩa trong ITU-T G.7041, cho phép ánh xạ các tín hiệu từ khách hàng ở các lớp cao hơn có độ dài thay đổi qua mạng truyền tải như OTN, SDH/SONET hoặc PDH.
GFP là một thuật ngữ chung, đó là sự xếp chồng của hai hướng: Đối với hướng của lớp dưới GFP cho phép sử dụng bất cứ kiểu công nghệ truyền tải nào, mặc dù hiện tại chỉ chuẩn hóa cho SDH và OTN. Còn hướng cho lớp phía trên, GFP hỗ trợ nhiều kiểu gói khác nhau như Ip, khung Ethernet, khung HDLC như PPP. Giao thức đóng khung GFP làm tương thích một luồng dữ liệu trên nền một khung đến luồng dữ liệu định hướng byte bằng cách sắp xếp các dịch vụ khác nhau vào một khung có mục đích chung, sau đó khung này được sắp xếp vào trong các khung SDH đã biết. Chính điều này cho phép ưu điểm hơn ở việc phát hiện và sửa lỗi và cung cấp hiệu quả sử dụng băng thông lớn hơn so với các thủ tục đóng gói truyền thống.4: Quá trình sắp xếp của GFP Luan van 7 Cấu trúc khung GFP được trình bày như hình 1.5, gồm những thành phần cơ bản: mào đầu lõi; mào đầu của tải tin; mào đầu của 1 số tính năng mở rộng; phần tải tin; chuỗi kiểm tra khung (FCS).5: Cấu trúc khung GFP GFP có hai phương pháp sắp xếp để thích ứng các tín hiệu khách hàng vào trong khung SDH: GFP sắp xếp theo khung (GFP-F) và GFP trong suốt (GFP-T).
GFP-F: GFP-F sử dụng cơ chế hiệu chỉnh lỗi mào đầu để phân tách khung GFP nối tiếp trong dòng tín hiệu ghép kênh cho truyền dẫn.6: Quy trình đóng khung dữ liệu trong giao thức GFP-F Do độ dài tải GFP là thay đổi nên cơ chế này đòi hỏi khung tín hiệu khách hàng được đệm toàn bộ lại để xác định độ dài trước khi sắp xếp vào khung GFP. Toàn bộ các gói dữ liệu từ khách hàng được đưa vào khung GFP-F cụ thể: - Các loại dữ liệu như Ethernet, PPP và DVB được xếp hàng đợi để ánh xạ. - Một số loại mã có thể được bỏ bớt để giảm kích thước truyền. Luan van 8 - GFP-F cung cấp phân kênh phụ vào 1 kênh duy nhất cho các nguồn có tốc độ thấp.
Do đó GFP-F vận chuyển hiệu quả hơn, tuy nhiên quy trình đóng gói ở hình 1.6 làm tăng độ trễ, làm cho GFP-F không phù hợp với các dịch vụ nhạy cảm với thời gian. GFP-T: Tín hiệu khách hàng cố định được sắp xếp trực tiếp vào khung GFP có độ dài xác định trước (sắp xếp theo mã khối cho truyền tải trong khung GFP, hiện thời chỉ mới định nghĩa cho mã 8B/10B trong chuẩn G. Quy trình đóng gói của giao thức GFP-T được mô tả ở hình 1.7: Quy trình đóng khung dữ liệu trong giao thức GFP-T Các tín hiệu từ khách hàng được ánh xạ thành các khung GFP có độ dài cố định và được truyền ngay lập tức mà không cần đợi nhận toàn bộ gói dữ liệu.2 Kỹ thuật ghép chuỗi ảo VCAT Ghép chuỗi là quá trình gom băng tần của X tải (C-i) thành một tải có băng tần lớn hơn, quá trình này cho băng tần lớn gấp X lần C-i. Các tải ghép chuỗi trong mạng được xử lí như những tải riêng biệt và độc lập, do đó nhà khai thác mạng truyền tải có thể tự do thực hiện chức năng ghép chuỗi mà không sợ ảnh hưởng đến hệ thống đang sử dụng hiện tại.
Có hai phương pháp ghép chuỗi: - Ghép chuỗi liên tục: là phương pháp ghép nối truyền thống được định nghĩa trong G.707, các container kế cận được kết hợp lại tạo các tải lớn hơn và truyền qua mạng SDH như là một container tổng. Do các tải này không bị phân chia thành các phần tải nhỏ hơn trong quá trình truyền dẫn nên tất cả các NE đều phải có chức Luan van 9 năng ghép chuỗi, khả năng nhận ra và xử lý container được ghép nối. Vì vậy phương pháp ghép chuỗi liên tục thiếu tính mềm dẻo trong việc sử dụng băng thông làm cho việc truyền dữ liệu không có hiệu quả, không đem lại độ mịn băng tần phù hợp cho các công nghệ phi kết nối và hướng gói như IP hoặc Ethernet. - Ghép chuỗi ảo: là quá trình truyền tải các VCAT riêng lẻ và nhóm chúng lại tại điểm cuối của luồng truyền dẫn.
Do đó, chức năng ghép chuỗi chỉ cần có tại thiết bị đầu cuối luồng. Cơ chế ghép chuỗi ảo cung cấp khả năng khai thác tải SONET/SDH hiệu quả và mềm dẻo. Cơ chế này phá vỡ giới hạn do sự phân cấp tín hiệu truyền dẫn đồng bộ SONET/SDH được thiết kế cho tải PDH. VCAT sắp xếp các tải trọng container độc lập vào trong một liên kết ảo.
Số container bất kỳ có thể nhóm lại được với nhau để cung cấp độ linh hoạt của băng thông tốt hơn so với cách ghép nối truyền thống, cho phép gia tăng độ mịn băng tần trên từng khối VC-n. Giải pháp ghép chuỗi ảo chỉ được yêu cầu tại các node nguồn MSPP, tại đây VCAT tạo một tải liên tục bằng X lần VC-n. Tất cả các VC thành viên đều được gửi đến node nguồn MSSP một cách độc lập, trên bất kì luồng rỗi nào nếu cần thiết.