CHƯƠNG I. CƠ SỞ KỸ THUẬT GHÉP KÊNH THEO BƯỚC SÓNG 1.1 Kỹ thuật ghép bước sóng quang. Trong hệ thống đơn kênh, khi tốc độ đường truyền đạt tới một mức nào đó người ta thấy các hạn chế của các mạch điện tử trong việc nâng cao tốc độ cũng như kéo dài cự ly truyền dẫn. Thêm vào đó, chi phí cho các giải pháp trên tuyến truyền dẫn rất tốn kém vì cấu trúc hệ thống quá phức tạp.
Do đó, kỹ thuật ghép kênh quang đã ra đời nhằm khắc phục được những hạn chế trên. Các phần tử quang trong hệ thống thiết bị sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc thay thế hoạt động của các phần tử điện ở các vị trí xung yếu đòi hỏi kỹ thuật xử lý tín hiệu nhanh. Về lý thuyết ta có thể làm tăng đáng kể dung lượng truyền dẫn của hệ thống bằng cách truyền đồng thời nhiều tín hiệu quang trên cùng một sợi nếu các nguồn phát có phổ cách nhau một cách hợp lý và ở đầu thu có thể thu được các tín hiệu quang riêng biệt nếu phần thu có các bộ tách bước sóng, đây chính là cơ sở của kỹ thuật ghép bước sóng.2 Nguyên lý cơ bản của ghép bước sóng quang. Nguyên lý cơ bản của ghép bước sóng quang có thể minh họa như hình vẽ 1.
Giả sử có các nguồn phát quang làm việc ở các bước sóng λ1, λ2, …, λn. Các tín hiệu quang ở các bước sóng khác nhau này sẽ được ghép vào cùng một sợi dẫn quang. Các tín hiệu có bước sóng khác nhau được ghép lại ở phía phát nhờ bộ ghép kênh, bộ ghép bước sóng phải đảm bảo có suy hao nhỏ và tín hiệu sau khi ghép sẽ được truyền dọc theo sợi để đến phía thu. Các bộ tách sóng quang khác nhau ở phía đầu thu sẽ nhận lại các luồng tín hiệu với các bước sóng riêng rẽ này sau khi chúng qua bộ giải ghép bước sóng.1 Mô tả tuyến thông tin quang ghép bước sóng HV: Vương Hồng Quang - Lớp : ĐT K6 - Viện Đại học mở Hà Nội.
13 Luận văn Thạc Sỹ Đặc điểm nổi bật của hệ thống ghép kênh theo bước sóng là tận dụng hữu hiệu nguồn tài nguyên băng thông rộng trong khu vực tổn hao thấp của sợi quang đơn mode, nâng cao rõ rệt dung lượng truyền dẫn của hệ thống, đồng thời hạ giá thành của kênh dịch vụ xuống mức thấp nhất. Hệ thống WDM dựa trên cơ sở tiềm năng băng tần của sợi quang để truyền đi nhiều bước sóng ánh sáng khác nhau, điều thiết yếu lúc này là việc truyền đồng thời nhiều bước sóng cùng một lúc không gây nhiễu lẫn nhau. Mỗi bước sóng đại diện cho một kênh quang trong sợi quang. Công nghệ WDM phát triển theo xu hướng mà sự riêng rẽ bước sóng của kênh có thể là một phần rất nhỏ của 1nm hay 10-9 m, điều này dẫn đến các hệ thống ghép kênh theo bước sóng mật độ cao DWDM.
Các thành phần thiết bị trước kia chỉ có khả năng xử lý từ 4 đến 16 kênh, mỗi kênh hỗ trợ luồng dữ liệu đồng bộ tốc độ 2,5 Gb/s cho tín hiệu mạng quang phân cấp số đồng bộ (SDH/SONET). Các nhà cung cấp WDM đã sớm phát triển các thiết bị nhằm hỗ trợ cho việc truyền nhiều hơn các kênh quang. Các hệ thống với hàng trăm kênh giờ đây đã sẵn sàng được đưa vào sử dụng, cung cấp một tốc độ dữ liệu kết hợp hàng trăm Gb/s và tiến tới đạt tốc độ Tb/s truyền trên một sợi đơn. Có hai phương án thiết lập hệ thống truyền dẫn sử dụng ghép bước sóng quang WDM.
Truyền dẫn một chiều hai sợi. WDM một chiều là tất cả các kênh quang cùng trên một sợi quang truyền dẫn theo cùng một chiều, ở đầu phát mang các tín hiệu có bước sóng khác nhau và đã điều chế λ1, λ2, ., λn thông qua bộ ghép kênh tổ hợp lại với nhau và truyền dẫn một chiều trên một sợi quang. Vì các tín hiệu được mang thông qua các bước sóng khác nhau, do đó sẽ không lẫn lộn. Ở đầu thu, bộ tách kênh quang tách những tín hiệu có bước sóng khác nhau, hoàn thành truyền dẫn tín hiệu quang đơn hướng, ở hướng ngược lại tín hiệu sẽ được truyền dẫn qua một sợi quang khác từ đầu thu tới đầu phát, nguyên lý giống như trên.
HV: Vương Hồng Quang - Lớp : ĐT K6 - Viện Đại học mở Hà Nội. 14 Luận văn Thạc Sỹ Hình 1.2 Sơ đồ truyền dẫn 1 chiều trên 2 sợi quang Truyền dẫn hai chiều một sợi. WDM hai chiều là kênh quang trên mỗi sợi cùng truyền dẫn theo hai chiều khác nhau, dùng các bước sóng khác nhau để thông tin hai chiều (song công). Hệ thống WDM song hướng yêu cầu phát triển và ứng dụng cao hơn, có cơ cấu phức tạp hơn đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cực kỳ nghiêm ngặt.
Có rất nhiều vấn đề cần lưu ý như phản xạ quang, xuyên âm giữa các kênh. Ở phía phát, các thiết bị ghép kênh phải có suy hao nhỏ từ mỗi nguồn quang tới đầu ra của bộ ghép kênh. Ở phía thu, các bộ tách sóng quang phải nhạy với dải rộng của các bước sóng quang. Khi thực hiện tách kênh cần phải cách ly kênh quang thật tốt với các bước sóng khác bằng cách thiết kế các bộ tách kênh thật chính xác, các bộ lọc quang nếu được sử dụng phải có bước sóng cắt thật chính xác, dải làm việc ổn định.
Do sử dụng bộ khuếch đại quang hai chiều nên hệ thống song hướng giảm được số lượng bộ khuếch đại và tiết kiệm được sợi quang Hình 1.3 Sơ đồ truyền dẫn 2 chiều trên một sợi quang HV: Vương Hồng Quang - Lớp : ĐT K6 - Viện Đại học mở Hà Nội. 15 Luận văn Thạc Sỹ Về nguyên lý, bất kỳ một bộ ghép bước sóng nào cũng có thể được dùng làm bộ giải ghép bước sóng. Như vậy, hiểu đơn giản ‘‘Multiplexer’’ trong trường hợp này thường được sử dụng ở dạng chung để tương thích cho bộ ghép và bộ giải ghép, trừ trường hợp cần thiết phải phân biệt hai thiết bị này. Người ta chia loại thiết bị ghép bước sóng quang thành ba loại: Các bộ ghép (MUX), các bộ giải ghép (DEMUX) và các bộ ghép và giải ghép hỗn hợp (MUX- DEMUX).
Các bộ MUX và DEMUX được dùng cho các phương án truyền dẫn song hướng. Phân loại các bộ ghép bước sóng trong kỹ thuật ghép bước sóng: Hình 1.4 Phân loại các bộ ghép bước sóng quang Các bộ ghép bước sóng thụ động được sử dụng hiện nay thường là các bộ vi quang học (microoptic) và bộ ghép sợi kiểu dẫn sóng (guided wave fibre coupler). Mỗi loại đều có ưu nhược điểm của mình. Các bộ vi quang học thường đòi hỏi hệ thống ghép nối các thấu kính để ghép vào sợi quang.
Các khó khăn trong việc định vị và ghép mối làm hạn chế các đặc tính kỹ thuật đặc biệt là đối với các sợi đơn mode. Tuy nhiên việc sử dụng các bộ vi quang học cho phép lựa chọn đặc tính của bộ lọc rộng rãi hơn. Các bộ ghép sợi ít chịu ảnh hưởng của các khó khă nêu trên nhưng lại bị hạn chế trong việc lựa chon các đặc tính cần có của bộ lọc, chẳng hạn như mức độ bằng phẳng của băng thông. HV: Vương Hồng Quang - Lớp : ĐT K6 - Viện Đại học mở Hà Nội.
16 Luận văn Thạc Sỹ Có 3 tiêu chuẩn cơ bản để xác định đặc tính của các bộ ghép bước sóng là: Suy hao xen Xuyên âm Độ rộng phổ của kênh Suy hao xen: Suy hao xen ở đây được xác định như lượng tổn hao công suất trên tuyến truyền dẫn quang do việc thêm vào các bộ ghép bước sóng. Khác với các coupler thông thường, ở đây suy hao xen được xem xét đối với từng bước sóng: Lk = -10log O(λk)/Ik(λk) MUX Li =-10log Oi(λi)/Ii/(λi) DEMUX Trong đó: I(λi), O(λk) là công suất tín hiệu được ghép ở trên đường chung Ik(λk) là công suất tín hiệu bước sóng λk đi vào cửa thứ k của bộ ghép, tín hiệu này được phát từ nguồn phát quang thứ k. Oi(λi) là công suất tín hiệu bước sóng λi đi khỏi cổng thứ i của bộ tách Suy hao này bao gồm suy hao sinh ra tại các điểm ghép nối của các bộ ghép bước sóng mà nguyên nhân chủ yếu là do hấp thụ hoặc do phản xạ. Mức độ ảnh hưởng tương đối của 2 nguồn suy hao trên đến hệ thống còn tùy thuộc vào loại công nghệ được lựa chọn để chế tạo bộ ghép bước sóng.
Xuyên âm: Xuyên âm là sự dò tín hiệu từ kênh này sang kênh kia. Nó làm tăng nền nhiễu và do vậy làm giảm tỷ số tín hiệu trên nhiễu SNR. Hiện tượng này được sinh ra do các yếu tố sau: Do các đặc tính của bộ lọc không hoàn thiện. Do phản xạ hay hội tụ không hoàn toàn làm các tia sáng bị tản mát.
Do phổ của các nguồn phát lấn lên nhau. Do các hiệu ứng phi tuyến xảy ra khi đưa công suất cao vào sợi quang. Trong một bộ giải ghép kênh lý tưởng, sẽ không có sự dò công suất tín hiệu từ kênh thứ i có bước sóng λi sang kênh khác có bước sóng khác với λi. Nhưng trong thực tế luôn luôn tồn tại một mức xuyên âm nào đó, và làm giảm chất lượng truyền HV: Vương Hồng Quang - Lớp : ĐT K6 - Viện Đại học mở Hà Nội.
17 Luận văn Thạc Sỹ dẫn của thiết bị. Khả năng để tách các kênh khác nhau được diễn giải bằng suy hao xen âm và được tính bằng dB như sau: Di(λk) = -10log Ui(λk)/I(λk) Trong đó: Ui(λk) là lượng tín hiệu không mong muốn ở bước sóng λk do có sự dò tín hiệu ở cửa thứ i sang, mà đúng ra thì chỉ có tín hiệu ở bước sóng λi. Trong thiết bị ghép-giải hỗn hợp, việc xác định suy hao xuyên kênh cũng được áp dụng như bộ giải ghép. Ở trường hợp này phải xem xét cả hai loại xuyên kênh, xuyên kênh đầu xa là do các kênh khác được ghép đi vào đường truyền gây ra, ví dụ như I(λk) sinh ra Ui(λk).
Xuyên kênh đầu gần là do các kênh khác ở đầu vào sinh ra, nó được ghép ở bên trong thiết bị như Ui(λi). Khi cho các sản phẩm, các nhà chế tạo cũng phải cho biết suy hao kênh đối với từng thiết bị. Độ rộng phổ của kênh: Độ rộng phổ của kênh là dải bước sóng dành cho mỗi một kênh. Độ rộng này phải đảm bảo để tránh nhiễu giữa các kênh.
Độ rộng phổ giữa các kênh tùy thuộc vào từng nguồn phát.