CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC THÔNG TIN QUANG 1.1 Lý thuyết về sợi quang 1.1 Cấu trúc cáp quang Cáp quang là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, có dây nhỏ và dẻo truyền các ánh sáng nhìn thấy được và các tia hồng ngoại. Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc. Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa. Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao( đây là tốc độ truyền dữ liệu, phân biệt với tốc độ tín hiệu) và truyền xa hơn.
Cấu trúc của cáp phải thõa mãn yêu cầu chính là bảo vệ sợi quang trước các tác động cơ học của điều kiện bên ngoài trong quá trình thi công, lắp đặt và cả quá trình sử dụng lâu dài. Các lực cơ học có thể làm đứt sợi quang tức khắc hoặc làm tăng suy hao và làm giảm tuổi thọ của sợi quang. Cáp quang cũng được chế tạo để phù hợp với mục đích sử dụng của viễn thông.1 Cáp quang Cấu trúc tổng quát của cáp quang bao gồm các phần sau: SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 5 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh Core: phần lõi, trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi, ánh sáng chỉ truyền trong phần này. Được làm bằng sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chế nhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng.
Sợi quang được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu Cladding: lớp bọc hay còn gọi là áo. Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi mà phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi. Để ánh sáng có thể phản xạ một cách hoàn toàn trong lõi thì chiết suất của lõi lớn hơn chiết suất của áo một chút. Lõi và áo được làm bằng thuỷ tinh hay chất dẻo(Silica), chất dẻo, kim loại, fluor, sợi quang kết tinh.
Buffer coating( có thể 2 lớp): là lớp vỏ bảo vệ, lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị hỏng và ẩm ướt. Có tác dụng áo bảo vệ sợi quang khỏi bị ẩm và ăn mòn, chống sự trầy xước, uốn cong, tăng cường sức chịu đựng đồng thời chống xuyên âm với các sợi đi bên cạnh. Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket.2 Cấu trúc của cáp quang Ngoài ra, sợi quang là một môi trường thông tin đặc biệt có thể so sánh với các môi trường khác như cáp đồng hoặc không gian tự do.
Một sợi quang cung cấp một môi trường truyền dẫn suy hao thấp trên một dải tần số rộng lớn, ít nhất là 2.5THz, hay cao hơn các loại sợi quang đặc biệt. Dải thông của nó rộng hơn dải thông của cáp đồng hay bất cứ môi trường truyền dẫn nào. Dải thông này có thể truyền hàng trăm triệu cuộc gọi đồng thời, hoặc hàng chục triệu trang wed trong một giây.Đặc tính suy hao thấp cho phép truyền tín hiệu ở khoảng cách dài với tốc độ cao trước khi chúng được SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 6 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh khuếch đại. Với hai đặc tính suy hao thấp và dải thông cao nên hệ thống thông tin quang đã được sử dụng rộng rãi ngày nay.3 Bó cáp quang Ưu điểm của cáp quang Dung lượng lớn, dải thông lớn, tốc độ cao.
Kích thước và trọng lượng nhỏ do đó dễ dàng lắp đặt. Không bị nhiễu bởi các tín hiện điện, điện từ hoặc thậm chí cả bức xạ ánh sáng. Tính cách điện, sử dụng nguồn điện ít do được làm từ thủy tinh, không chứa vật chất dẫn điện nên rất an toàn khi sử dụng trong các môi trường đòi hỏi tính an toàn cao. Tính bảo mật cao do không thể bị trích để lấy trộm thông tin bằng các phương tiện điện thông thường.
Độ tin cậy cao do cáp quang được thiết kế thích hợp có thể chịu đựng được những điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm khắc nghiệt và thậm chí có thể hoạt động ở dưới nước. Tính linh hoạt do các hệ thống thông tin quang đều khả dụng cho hầu hết các dạng thông tin số liệu, thoại và video. Các hệ thống này đều có thể tương thích SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 7 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh với các chuẩn RS.35, Ethernet, Arcnet, FDDI, T1, T2, T3, Sonet, thoại 2/4 dây, tín hiệu E/M… Dễ dàng nâng cấp khi chỉ cần thay thế thiết bị thu phát quang còn hệ thống cáp sợi quang vẫn có thể được dữ nguyên.2 Phân loại cáp quang 1.1 Phân loại theo mode Tương ứng với số lượng mode của ánh sáng truyền qua sợi quang. Mode sóng là một trạng thái truyền ổn định của sóng ánh sáng( cũng có thể hiểu một mode là một tia).
Khi truyền trong sợi quang, ánh sáng đi theo nhiều đường, trạng thái truyền ổn định của các đường này được gọi là các mode sóng. Có 2 loại: Đơn mode(single mode): hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng truyền dữ liệu với khoảng cách <= 5Km, có thể truyền rất xa mà không cần khuếch đại, thường được các doanh nghiệp, cơ quan sử dụng trong các hệ thống mạng nội bộ, truyền thông trong công nghiệp… Sợi đơn mode(single mode) chỉ có thể truyền 1 ánh sáng với 1 bước sóng nhất định. Đa mode(multi mode): là loại cáp có đường kính lõi nhỏ( <10micromet), truyền được dữ liệu với khoảng cách không giới rất xa. Sợi đa mode(multi mode) có thể truyền cùng lúc nhiếu ánh sáng với góc anpha khác nhau.
Những đặc điểm của sợi đa mode: đường kính lõi lớn, nhạy cảm với tán sắc, bộ phát/thu và ghép quang đơn giản, hàn và nối dễ, suy hao lớn, băng thông thấp. Đa mode còn chia làm 2 loại: step mode và grade mode. Step mode thì chiết suất từ lõi đến vỏ giảm dần, nhưng theo từng nấc, có tia sáng truyền theo kiểu phản xạ toàn phần, băng thông thấp, chỉ phù hợp cho các đường truyền ngắn, còn grade mode thì giảm liên tục, có tia sáng truyền theo dạng Sine và có băng thông cao hơn step mode nên grade mode sẽ tốt hơn step mode. Sợi quang đơn mode(single mode) hay sợi quang đa mode(multi mode) đều chỉ truyền một tín hiệu( là dữ liệu mà ta cần truyền).
Muốn truyền nhiều dữ liệu từ các kênh khác nhau, ta phải dùng đến công nghệ WDM( truyền nhiều bước sóng trên cùng một sợi SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 8 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh quang). Do sợi quang là vật liệu truyền thông tin dựa trên định luật phản xạ ánh sáng. Tia sáng khi đi từ môi trường có chiết suất cao qua môi trường chiết suất thấp thì không đi thằng( hay còn gọi là tán xạ) mà sẽ phản xạ lại. Do đó, khi ánh sáng mang thông tin, sẽ được truyền đi mà không bị suy hao gì cả( vì nó cứ chạy lòng vòng trong đó, phản xạ bên này, rồi phản xạ bên kia.
Sợi quang đơn mode(single mode) thì lõi có chiết suất là một hằng số và chiết suất của vỏ cũng là 1 hằng số. Khi đó ánh sáng sẽ truyền đi theo đường ziczac trong sợi quang( độ lệch pha của tín hiệu khi đó sẽ đáng kể).4 Phân loại theo mode Sợi đơn mode truyền xa và tốt hơn sợi đa mode. Trong sợi đơn mode, ánh sáng đi theo gần như một đường thẳng trùng với trục cáp, còn trong sợi đa mode, ánh sáng đi theo một chùm tia sáng có dạng đồ hình sin đồng trục( vì thế mà ta có thể ghép thêm nhiều ánh sáng có các bước sóng khác nhau). Sợi quang đa mode sẽ gặp hiện tượng tán sắc trong sợi quang giữa các mode truyền dẫn.
Đây là yếu điểm chính của đa mode so với đơn mode. Do đó mà tín hiệu trong sợi quang đa mode dễ bị tán xạ hơn, tốc độ truyền kém hơn và khoảng cách truyền gần hơn. Sợi quang có chỉ số bước và chỉ số lớp tuỳ theo hình dạng và chiết suất của các phần của lõi sợi. Sợi quang đơn mode hay đa mode phụ thuộc vào bước sóng của ánh sáng truyền trong đó.
Cùng một sợi quang nhưng nó có thể là sợi đơn mode với bước SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 9 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh sóng này và là sợi đa mode với bước sóng khác. Tuy nhiên trong sợi quang, người ta chỉ truyền một số bước sóng nhất định. Những bước sóng này gọi là các cửa sổ quang. Ba bước sóng đó là 850nm, 1330nm, 1550nm.
Thường thì bước sóng 850nm ít được dùng. Sợi đa mode có các bước sóng chuẩn là: 780nm, 850nm và 1300nm. Hiện nay các thiết bị ít dùng bước sóng 780nm. Sợi đơn mode có các bước sóng: 1330nm, 1550nm và 1627nm.
Các thiết bị single mode dùng công nghệ DWMD thì còn có thể sử dụng nhiều bước sóng khác nữa. Do đó khái niệm sợi đa mode và đơn mode phải gắn liền với bước sóng truyền. Khoảng cách truyền( theo khuyến cáo) của cáp đa mode là 500m. Khoảng cách truyền( theo khuyến cáo) của cáp đơn mode là 3000m.
Sợi quang đơn mode được dùng chủ yếu do không có hiện tượng tán sắc giữa các mode là nguyên nhân chủ yếu gây nhiễu ở sợi quang. Sợi đơn mode được dùng để làm mạng backbone còn sợi đa mode chỉ dùng truyền giữa các mạng trong vùng. Thêm nữa cả đơn mode và đa mode đều dùng ánh sáng laser hoặc led được, còn sử dụng cái nào là tuỳ vào từng trường hợp cụ thể do nhu cầu và yêu cầu của mạng. Hiện nay, cáp quang đơn mode chỉ dùng cho đường trục, ngoài việc giá thành ra, công nghệ của cáp đơn mode rất khắt khe, và rất khó trong việc thi công cũng như sử dụng.
Lý do chính là do lớp lõi của cáp đơn mode rất nhỏ( khoảng 27 micromet) còn của đa mode thì lớn hơn rất nhiều( khoảng 130 micromet). Ngoài ra, do kết cấu lõi đơn mode cho ánh sáng đi theo đường thẳng, mà giá thành chế tạo, cũng như độ chính xác trong thi công, thiết bị công nghệ cao. làm cáp đơn mode khó thực hiện trong các công.2 Phân loại theo môi trường lắp đặt Cáp treo: dùng cho cự ly dài, môi trường băng tuyết, chịu được nhiệt, ảnh hưởng cơ và có độ bền cao. SVTH: Hồ Lê Lợi Trang 10 MSSV:0951040038 Kỹ thuật truyền dẫn ROF GVHD:Ths.Phạm Thúy Oanh Hình 1.5 Cáp treo Kéo trong ống: chịu được lực kéo, xoắn, chống ẩm tốt và nhẹ, dễ dàng trong việc lắp đặt.
Thường có vỏ nhựa PE màu đen.