Nghiên cứu và thiết kế thiết bị tập phục hồi chức năng tại HCMUTE

Hcmute nghiên cứu thiết kế và chế tạo thiết bị tập phục hồi chức năng, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết

2021

91
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.4. Hệ thống PHCN bằng robot

1.5. Hệ thống thực tế ảo

1.6. Hệ thống thực tế ảo tăng cường

1.7. Trí tuệ nhân tạo trong PHCN

1.8. Lý do chọn đề tài

1.9. Mục tiêu đề tài

1.9.1. Mục tiêu tổng quát

1.9.2. Mục tiêu cụ thể

1.10. Phương pháp nghiên cứu

1.11. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG Y HỌC TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG

2.1. Lý thuyết về vận động

2.2. Các nhóm cơ chi trên

2.3. Các nhóm cơ chi dưới

2.4. Phục hồi chức năng

2.5. Mục tiêu PHCN vận động

2.6. Đặc điểm của PHCN sau đột quỵ

2.7. Điều kiện tham gia trị liệu

2.8. Độ tuổi và sức khỏe

2.9. Quy trình tập PHCN

2.10. Thiết lập mục tiêu

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ HỆ THỐNG CƠ KHÍ

3.1. Yêu cầu cho mô hình động học cho hệ thống

3.2. Phương án thiết kế hệ thống

3.3. Hệ thống hỗ trợ khâu cuối

3.4. Hệ thống hỗ trợ khung xương

3.5. Lựa chọn phương án thiết kế

3.6. Phân tích cấu hình của hệ thống

3.7. Bộ phận trục chân

3.8. Bộ phận quay tay

3.9. Cơ cấu thay đổi khoảng cách

3.10. Cơ cấu kháng lực

3.11. Hệ thống trợ lực

3.12. Tính toán bộ truyền

3.13. Tính toán bền

3.14. Tải trọng tác dụng lên trục

3.15. Kiểm nghiệm về độ bền

3.16. Kết quả tính ứng suất

3.17. Kết quả tính chuyển vị

3.18. Tính toán động cơ điện

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH BÀI TOÁN ĐỘNG LỰC HỌC

4.1. Phân tích bài toán động học cơ hệ người

4.2. Bài toán động lực học hệ thống

4.3. Tính toán lực ma sát tạo kháng lực

4.4. Nội suy lực do tay bệnh nhân tác động vào tay cầm

4.5. Nội suy lực do chân bệnh nhân tác động vào bàn đạp

4.6. Nội suy lực cho từng bó cơ

4.7. Nội suy lực của cơ cánh tay

4.8. Nội suy lực của cơ chân

5. CHƯƠNG 5: THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐIỆN – ĐIỀU KHIỂN

5.1. Cấu trúc hệ thống điện điều khiển

5.2. Hệ thống cảm biến

5.3. Cảm biến moment xoắn

5.4. Điều khiển động cơ trợ lực

6. CHƯƠNG 6: TƯƠNG TÁC THỰC TẾ ẢO TĂNG CƯỜNG

6.1. Thiết bị hiển thị

6.2. Bài tập PHCN

6.3. Phần mềm giám sát hệ thống tập

6.4. Bảng điều khiển và thu thập dữ liệu

6.5. Cấu trúc môi trường tăng cường và trò chơi tăng cường

6.6. Môi trường tăng cường

6.7. Kiến trúc bài tập của hệ thống

6.8. Tương tác giữa người sử dụng và hệ thống

6.9. Giao diện với người sử dụng

6.10. Giao diện kết nối với bộ điều khiển

6.11. Cơ sở thiết kế giao diện trên hệ thống

7. CHƯƠNG 7: ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

7.1. Xây dựng liệu trình luyện tập dựa trên mạng Fuzzy

7.2. Thuật toán Fuzzy

7.3. Xây dựng liệu trình tập luyện

7.4. Hiệu chỉnh liệu trình dưa trên mạng Fuzzy

7.5. Giám sát bệnh nhân thông qua mạng Perceptron

8. CHƯƠNG 8: THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

8.1. Thông số kỹ thuật phần cứng

8.2. Xây dựng quy trình tập PHCN

8.3. Đánh giá hệ thống thị giác máy

8.4. Camera ở phía chính diện

8.5. Camera ở một bên

9. CHƯƠNG 9: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC A: BẢNG KHẢO SÁT MOMENT CÁC CHI KHI THỰC HIỆN BÀI TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Thiết bị tập phục hồi chức năng từ HCMUTE

Công trình nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị tập phục hồi chức năng (PHCN) từ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (HCMUTE) tập trung vào việc giải quyết những hạn chế của phương pháp PHCN truyền thống. Nghiên cứu này ứng dụng công nghệ robot, thực tế ảo tăng cường (AR) và trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm tạo ra một hệ thống PHCN hiệu quả, tiết kiệm chi phí và thu hút người bệnh hơn. Mục tiêu chính là phát triển một hệ thống hỗ trợ PHCN đa dạng, với các bài tập dưới dạng trò chơi tương tác, giảm bớt gánh nặng cho bác sĩ trị liệu và dễ tiếp cận với nhiều đối tượng bệnh nhân, kể cả những người có thu nhập thấp. Công trình nhấn mạnh vào tính mới và sáng tạo, giải quyết các vấn đề như chi phí cao, thiếu nhân lực, và tính nhàm chán của các bài tập PHCN truyền thống.

1.1. Nghiên cứu PHCN trong nước và quốc tế

Công trình so sánh các phương pháp PHCN hiện tại trong nước và quốc tế. Ở Việt Nam, phần lớn thiết bị tập PHCN còn thô sơ, chưa đo đạt được mức độ hoạt động của cơ bắp và độ chính xác thấp. Động lực luyện tập cũng hạn chế. Ngược lại, các nước tiên tiến đã ứng dụng rộng rãi công nghệ robot, thực tế ảo (VR) và AR trong PHCN. Tuy nhiên, chi phí của các hệ thống này thường rất cao, hạn chế khả năng tiếp cận. Công trình này hướng đến việc khắc phục những nhược điểm này, tạo ra một giải pháp PHCN tiên tiến nhưng vẫn có giá thành hợp lý. Thiết bị PHCN của công ty Phana được đề cập như một ví dụ về sản phẩm trong nước, tuy nhiên, công trình nghiên cứu HCMUTE hướng đến sự cải tiến đáng kể về mặt công nghệ và hiệu quả. Công trình cũng phân tích ưu, nhược điểm của hệ thống PHCN bằng robot, hệ thống thực tế ảo, và hệ thống thực tế ảo tăng cường, đặt nền tảng cho việc lựa chọn công nghệ phù hợp trong nghiên cứu của mình. Đây là một điểm mạnh của nghiên cứu, thể hiện sự hiểu biết toàn diện về tình hình hiện tại của lĩnh vực.

1.2. Thiết kế và chế tạo thiết bị PHCN

Phần này tập trung vào quá trình thiết kếchế tạo thiết bị PHCN. Công trình mô tả chi tiết quá trình thiết kế cơ khí, bao gồm phân tích động học, lựa chọn vật liệu, tính toán tải trọng, và kiểm nghiệm độ bền. Các yếu tố như hệ thống hỗ trợ khâu cuối, hệ thống hỗ trợ khung xương, cơ cấu thay đổi khoảng cách, cơ cấu kháng lực, và hệ thống trợ lực được phân tích kỹ lưỡng. Việc ứng dụng phần mềm SolidWorks cho phép kiểm nghiệm độ bền và tính toán ứng suất, chuyển vị. Phân tích bài toán động lực học được thực hiện để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của thiết bị. Thiết kế hệ thống điện – điều khiển cũng được đề cập, bao gồm lựa chọn cảm biến, điều khiển động cơ, và cấu trúc hệ thống điện điều khiển. Công trình trình bày rõ ràng các tính toán và mô hình hóa, tạo ra sự tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Việc tích hợp công nghệ thực tế ảo tăng cường nhằm nâng cao trải nghiệm người dùng, làm cho quá trình phục hồi chức năng trở nên thú vị và hiệu quả hơn. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống PHCN hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của người dùng.

1.3. Ứng dụng Trí tuệ nhân tạo và Đánh giá kết quả

Công trình tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống PHCN, cụ thể là sử dụng mạng Fuzzy để xây dựng liệu trình luyện tập cá nhân hóa và mạng Perceptron để giám sát bệnh nhân. Việc ứng dụng AI cho phép hệ thống tự động điều chỉnh liệu trình dựa trên dữ liệu đầu vào, từ đó tăng hiệu quả PHCN. Quá trình đánh giá kết quả được thực hiện dựa trên các thông số kỹ thuật phần cứng, xây dựng quy trình PHCN, và đánh giá hệ thống thị giác máy. Các kết quả thí nghiệm được trình bày rõ ràng, cho thấy hiệu quả của hệ thống PHCN được phát triển. Sự kết hợp giữa công nghệ thực tế ảo tăng cường, robot, và trí tuệ nhân tạo tạo nên một giải pháp toàn diện, hiệu quả cho phục hồi chức năng. Chi phí phục hồi chức năng được xem xét, hướng đến việc tạo ra một sản phẩm có giá cả phải chăng, dễ tiếp cận với nhiều người. Đây là một điểm nhấn quan trọng của nghiên cứu này, thể hiện tính ứng dụng thực tiễn cao.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não là căn bệnh do lưu lượng máu đến não giảm đi dẫn đến việc chết tế bào, là căn bệnh rất phổ biến và nguy hiểm trong xã hội hiện đại. Có hai loại đột quỵ chính: thiếu máu cục bộ (do thiếu máu cung cấp cho cơ quan trong cơ thể) và xuất huyết (do chảy máu). Đột quỵ là chứng bệnh vô cùng nguy hiểm, nó đến bất ngờ khiến người bệnh có thể tử vong nếu không biết cách cấp cứu kịp thời.

Nếu may mắn được cứu sống, bệnh nhân có nguy cơ cao mắc các biến chứng nguy hiểm như rối loạn nhận thức, mất khả năng vận động, nhiễm trùng đường tiết niệu, khó khăn trong việc nói hoặc nuốt, rối loạn tâm lý, không có khả năng di chuyển hoặc cảm giác ở một bên của cơ thể, có vấn đề về hiểu hoặc nói, chóng mặt hoặc mất thị lực sang một bên… (hình 1. Theo Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ [1], đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong lớn thứ năm và là nguyên nhân gây liệt hàng đầu ở Mỹ. Bệnh nhân sau đột quỵ thường bị mất vận động toàn bộ hoặc một phần, trong số đó chiếm 80% là liệt nửa người [2]. Trong cơn đột quỵ, bên não bị tổn thương sẽ gây tê liệt ở bên đối diện của cơ thể, dẫn đến yếu cơ ở đây.

Những người mắc chứng liệt nửa người thường được điều trị thông qua phương pháp phục hồi chức năng (PHCN) đa ngành, đòi hỏi sự hỗ trợ của các nhà trị liệu vật lý, liệu pháp PHCN và các chuyên gia sức khỏe tâm thần. Tuy nhiên, chi phí tập PHCN hiện nay còn khá là tốn kém và trở thành gánh nặng cho bệnh nhân và gia đình họ. Tại Hoa Kỳ, tổng chi phí đột quỵ năm 2008 ước tính khoảng 65,5 tỷ USD, trong đó 67% đến từ chi phí cho bác sĩ, chuyên gia y tế, chăm sóc cấp tính và dài hạn, thuốc men và các dụng cụ y tế khác [3].1: Một bệnh nhân bị liệt nửa người sau khi đột quỵ. Luan van 2 Theo dữ liệu thì một kỹ thuật viên ở Việt Nam phụ trách số lượng bệnh nhân PHCN sau tai biến luôn cao hơn 15 người trên một kỹ thuật viên, do đó áp lực công việc đối với họ là khá cao.000 ca đội quỵ mỗi năm, nhu cầu sử dụng các loại máy móc vật lý trị liệu ngày càng tăng, đòi hỏi sự cải tiến về máy móc và trình độ của đội ngũ bác sĩ, y tá.

Trong khi đó, các bài tập PHCN truyền thống lặp đi lặp lại dễ dẫn đến nhàm chán và mất điều kiện trong đào tạo PHCN dài hạn. Hiện nay ở hầu hết trung tâm vật lý trị liệu, giá của các gói tập vận động PHCN là 500,000 đồng/5 giờ điều trị. Do đó, giải pháp phù hợp, mang tính kinh tế là sử dụng robot hỗ trợ việc điều trị, hạn chế yếu tố tác động của con người vì không phải nhân viên y tế nào cũng làm tốt công việc vật lý trị liệu. Ngoài ra, nhu cầu tập ở nhà của bệnh nhân cũng rất lớn và các thiết bị dựa trên công nghệ có thể hỗ trợ bệnh nhân tập ở nhà do không cần sự hỗ trợ của y tá, thu thập dữ liệu trong khi tập và gửi đến bác sĩ và người nhà bệnh nhân.

Do những yếu tố này, liệu pháp PHCN dựa trên công nghệ trở thành một lựa chọn khả thi [4-6]. Các công trình nghiên cứu liên quan 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Hầu hết các thiết bị tập PHCN được phát triển ở Việt Nam đều có các điểm chung như sau: - Tập trung vào việc gia tăng sức mạnh cơ bắp tại vị trí luyện tập, bỏ qua độ chính xác của chuyển động cơ bắp đó. Do đó, các bài tập được thực hiện trên các thiết bị này chỉ tác động đến dây thần kinh vận động kích thích vận động cơ bắp, mà chưa tác động đến dây thần kinh cảm giác.

Người tập chưa cảm nhận được biên độ cũng như các góc của chuyển động. - Các thiết bị tương đối thô sơ, chưa đo đạt được mức độ hoạt động của cơ bắp. - Các thiết bị đồ họa tuy có xác định vị trí chi, nhưng độ chính xác không cao. Đồng thời, thiết bị chỉ tập trung vào điều trị khả năng chuyển động của chi một cách tổng quát, hoàn toàn không chú trọng đến một khớp nào, dẫn đến việc khó khăn trong việc tập trung điều trị một khớp định trước.

- Động lực luyện tập trên các thiết bị nhìn chung tương đối thấp. - Phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ của bác sĩ trị liệu. Việc đầu tư nghiên cứu vào thiết bị y tế nói chung gần như ít được quan tâm hơn so với các lĩnh vực khoa học kĩ thuật khác. Chỉ một số ít là các sản phẩm trong nước, khá đơn giản như các thiết bị của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Phana.

Đây là công ty duy nhất sản xuất các thiết bị y tế và thiết bị vật lý trị liệu ở Việt Nam. Công ty có một số sản phẩm đã và đang được sử dụng ở thị trường trong nước như thiết bị tập xoay cổ tay và tập cơ chân (hình 1. Luan van 3 Hình 1.2: Một số thiết bị tập PHCN của công ty Phana. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở các nước tiên tiến, nhiều thiết bị PHCN dựa trên công nghệ đã được nghiên cứu và đưa vào sử dụng, hệ thống robot PHCN, hệ thống thực tế ảo (VR), hệ thống thực tế tăng cường (AR) và trí tuệ nhân tạo (AI) đã được đề xuất là công nghệ tiên tiến góp phần đáng kể vào PHCN.

Hệ thống PHCN bằng robot PHCN tay PHCN chân Hình 1.3: Các mô hình và phân loại PHCN bằng robot. Một lĩnh vực nghiên cứu dành riêng cho việc hỗ trợ PHCN thông qua các thiết bị robot đang trở nên phổ biến hơn được gọi là robot PHCN. Robot PHCN có thể được coi là sự kết hợp giữa robot kỹ thuật và PHCN. Kể từ năm 1990, nghiên cứu về robot PHCN Luan van 4 đã tăng nhanh và trở nên cấp bách trong những năm gần đây.

Những thiết bị này đã được áp dụng trong các tình huống lâm sàng thực tế [7-8]. Những robot này được sử dụng trong quá trình PHCN của người khuyết tật trong việc đứng lên, giữ thăng bằng và tập dáng đi (hình 1. Hầu hết các thiết bị PHCN bằng robot cung cấp một hệ thống hỗ trợ trọng lượng cơ thể và tập dựa trên một máy chạy bộ. Người dùng sẽ mang một đôi giày được treo trên hệ thống kiểm soát dáng đi.

Trong quá trình tập luyện, người dùng sẽ được nâng lên và sẽ theo bước khởi động để đi bộ như hệ thống Lokomat (hình 1.4: Hệ thống PHCN chi dưới Lokomat [9]. Một ưu điểm của việc sử dụng các thiết bị này là người khuyết tật có thể lặp lại quá trình và thực hành nhiều lần như họ muốn. Hơn nữa, robot có thể cung cấp các phép đo chính xác nhằm xác định sự tiến bộ trong quá trình phục hồi [10]. Tuy nhiên, chi phí cho những hệ thống như vậy là không hề rẻ, chỉ có các cơ sở tiên tiến mới có thể trang bị những hệ thống này, do đó khó áp dụng ở những gia đình có thu nhập trung bình và thấp.

Thêm vào đó, robot chỉ mang hình thức hỗ trợ người bệnh luyện tập một cách tự động hơn nên chưa giải được bài toán động lực tập luyện cho bệnh nhân. Hệ thống thực tế ảo VR là công nghệ giao diện người-máy tính cho phép người dùng trải nghiệm và tương tác trong môi trường ảo (VE) và trải nghiệm nó như thể nó đang xảy ra trong môi trường thực [11]. VE là môi trường nhân tạo được phát triển với phần mềm đặc biệt để người dùng nhập vai và vận hành trong môi trường này. Nó cung cấp một cách dễ dàng, mạnh mẽ, tương tác trực quan giữa người và máy tính thông qua việc sử dụng kính bảo hộ, găng tay, bộ quần áo hoặc tai nghe.

Người dùng có thể thấy và điều khiển môi trường mô phỏng giống như cách hoạt động trong thế giới thực. Nỗ lực đầu tiên của ứng dụng VR là khi nó được sử dụng như một công cụ trực quan cho một kiến trúc sư. Kể từ đó, Luan van 5 VR ngày càng trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi cho nhiều ứng dụng khác như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, quân sự, giải trí, v.5: Hệ thống PHCN thực tế ảo. Trong số các ứng dụng này, chăm sóc sức khỏe là một trong những lĩnh vực lớn nhất sử dụng công nghệ VR bao gồm điều trị, đào tạo, phẫu thuật robot và mô phỏng do môi trường và động lực an toàn của nó.

Trong bối cảnh PHCN, các hệ thống VR đã chứng minh rằng chúng cung cấp đào tạo tạo động lực có thể vượt trội so với đào tạo trong thế giới thực do môi trường phong phú, môi trường thực hành theo định hướng nhiệm vụ và chức năng cao thường giới hạn trong môi trường đào tạo thực tế. Ngoài ra, VR có thể được sử dụng để tạo ra các loại môi trường trị liệu khác nhau dành riêng cho một khuyết tật cụ thể và các loại phản hồi khác nhau. Hơn nữa, nó cũng có thể được sử dụng để thiết lập lịch trình tự động để đào tạo, kiểm tra và ghi nhận lại thông số luyện tập của người dùng. Dựa trên những lợi thế này, các nhà nghiên cứu đã tích hợp VR trong robot PHCN để cung cấp một nền tảng phục hồi tốt hơn [16-17].

Mặc dù, những kết quả đầy hứa hẹn đã được báo cáo về những thử nghiệm dựa trên VR [18-19] nhưng thiết bị theo dõi và tai nghe VR rất khó khử trùng đối với một số lượng lớn bệnh nhân, thêm vào đó một số bệnh nhân cảm thấy khó khăn hoặc không thoải mái khi đeo những thiết bị như vậy [20]. Do đó, biện pháp tập PHCN dựa trên VR vẫn còn gặp nhiều hạn chế. Hệ thống thực tế ảo tăng cường Để tạo nên một môi trường luyện tập an toàn và bền vững hơn, việc ứng dụng thực tế ảo tăng cường (AR) trong tập phục hồi chứng năng đã được nghiên cứu. AR là sự kết hợp giữa thế giới thực và thế giới ảo nơi các vật thể ảo lồng ghép lên các vật thể thực.

Nói cách khác, AR cho phép lớp phủ thông tin kỹ thuật số lên vật thể vật lý thực. Theo một tài liệu của Zhou, Duh và Billinghurst, AR là một công nghệ cho phép hình ảnh ảo do máy tính tạo ra để phủ lên các đối tượng vật lý một cách chính xác trong thời gian Luan van 6 thực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thiết bị tập phục hồi chức năng từ HCMUTE" giới thiệu về các thiết bị và công nghệ tiên tiến được phát triển tại HCMUTE nhằm hỗ trợ quá trình phục hồi chức năng cho người bệnh. Những thiết bị này không chỉ giúp cải thiện khả năng vận động mà còn mang lại nhiều lợi ích cho người sử dụng, như tăng cường sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình thiết kế và ứng dụng của các thiết bị này, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công nghệ trong lĩnh vực y tế.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các dự án nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tại HCMUTE, hãy tham khảo bài viết "Đồ án hcmute sử dụng kỹ thuật vi gel để vi bao nấm men saccharomyces boulardii", nơi bạn có thể khám phá các kỹ thuật tiên tiến trong nghiên cứu vi sinh. Ngoài ra, bài viết "Hcmute thiết kế và thử nghiệm thông số in từ máy in 3d laser bột" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng công nghệ in 3D trong thiết kế thiết bị y tế. Cuối cùng, bài viết "Đồ án hcmute nghiên cứu xây dựng cở sở in nhanh với nguồn vốn thấp" cung cấp cái nhìn về cách thức phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ với nguồn lực hạn chế, mở ra nhiều cơ hội cho nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực này.