đặt vấn đề của chủ nhĩa duy vật mang tính khoa học, vì vậy nó phải trải qua những giai đoạn thử thách và kiểm nghiệm, còn chủ nghĩa duy tâm có một sự tiện lợi,vì nó đặt niềm tin ở một đấng sáng tạo nào đó mà không cần sự phân tích và kiểm nghiệm. Có lẽ đó cũng là lý do cho sự tồn tại như cặp bài trùng của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học. Như vậy từ một quan niệm về vũ trụ , đi đến những quan niệm về nhân sinh (nhân sinh quan)là một trình tự cấu trúc chặt chẽ của triết học. Nhân sinh quan phải lấy vũ trụ quan làm cơ sở căn bản để triển khai các luận điểm.
Việc mở rộng các quan điểm nhân sinh quan ra môi trường cộng đồng, trong đó con người tồn tại chúng tôi gọi đó là xã hội quan. Triết học duy vật biện chứng coi toàn bộ thế giới với tất cả các sự vật hiện tượng trong đó là một chỉnh thể thống nhất(trong đó có cả con người z 19 và xã hội). Như vậy một hệ thống các quan điểm tổng thể về thế giới khách quan, đương nhiên phải gồm cả con người và xã hội. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi trình bày về thế giới quan triết học gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan.
Theo từ điển triết học (NXB Tiến Bộ Mátxcơva - có bổ xung và sửa chữa của NXB Sự Thật 1986): "Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình".” Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học, v. các quan điểm triết học, hợp thành hạt nhân chủ yếu của mọi thế giới quan. Vấn đề cơ bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay duy tâm.
Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử. Như vậy thế giới quan mang tính lịch sử. Trong xã hội có phân chia giai cấp thì thế giới quan cũng còn mang tính giai cấp. Thế giới quan tiêu biểu của các xã hội bao giờ cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã hội đó”.
Thế giới quan triết học có một ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý luận và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về thực tiễn nữa, biểu hiện cách nhìn bao quát đốí với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ nam cho hành động của con người. Nhờ đã phát hiện những qui luật khách quan của tự nhiên và của xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ hướng những hoạt động của con người đúng theo xu hướng phát triển. Ở đây chúng tôi cũng xin lưu ý thêm khái niệm “thế giới quan “ và khái niệm “thế giới quan triết học “có một sự khác nhau rất lớn, “thế giới quan”nhiều khi được hiểu đó là một cách quan niệm về một vấn đề nào đó trong thế giới khách quan; còn “thế giới quan triết học” là những khái niệm có tính hệ thống, lý luận và tổ chức theo một lôgic nhất định, trên cơ sở đó có thể triển khai các thao tác suy luận của tư duy để gia tăng kiến thức, có thể z 20 ứng dụng cho các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nói cách khác thế giới quan triết học phải trở thành phương pháp luận. Như vậy chúng ta nhận thấy với tính lịch sử, tính giai cấp, tính duy tâm hay duy vật về mặt lập trường triết học, thế giới quan triết học nói chung biểu hiện tính tương đối và do đó không có một hệ thống thế giới quan nào đạt được các giá trị ổn định và bất biến, vấn đề là ở chỗ nó đạt được tính khoa học và khách quan đến mức độ nào về mặt khoa học mà thôi.
Cùng với sự phát triển của các khoa học của nhân loại qua các thời đại khác nhau, thế giới quan triết học càng ngày càng giúp cho con người có cái nhìn bao quát về thế giới khách quan đầy đủ hơn. Tại đây chúng tôi cũng xin nói thêm rằng: dù là ở thời đại nào với trình độ nào thì những tra vấn triết học đầu tiên vẫn là câu hỏi về thế giới khách quan quanh mình, nó tóm tắt trong câu hỏi có tính chất nêu vấn đề "nhìn chung thế giới quanh ta là gì?" những câu trả lời khác nhau trong các lĩnh vực là cơ sở cho sự phân loại các ngành khoa học khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học làm cho chúng ta tưởng chừng các khoa học là độc lập và tách biệt, song nhiệm vụ của triết học vẫn là đưa ra một cái nhìn tổng quan và khái quát về thế giới trên cơ sở các thành tựu của những ngành khoa học khác nhau. Theo chúng tôi có lẽ đây là “đối tượng riêng” mang tính truyền thống của triết học nói chung và thế giới quan triết học nói riêng.
Trên cơ sở quan niệm như vậy về thế giới quan triết học chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách quan niệm của mình để sử dụng cho công việc: "thế giới quan triết học là hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế giới khách quan, mang tính định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn". Cụm từ “Hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế giới khách quan” mà chúng tôi dùng ở đây được hiểu là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan bên ngoài con người với tất cả các qui luật vận động của nó. Cụm từ “mang tính định hướng cho con người” được hiểu là từ một quan niệm về thế giới bên ngoài đi đến những quyết định cho các hành vi của con người trong các hoạt động của đời sống và quan hệ xã hội. Khái niệm "họat động thực tiễn" mà chúng tôi dùng trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động của con z 21 người trong quá trình sản xuất ra các giá trị của đời sống vật chất cũng như các giá trị của đời sống tinh thần.
Như ở trên đã nói, cấu trúc của thế giới quan gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan. Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày nội hàm của các khái niệm trên. Vũ trụ quan là hệ thống các học thuyết về qui luật cấu thành, phát sinh, phát triển và vận hành của vũ trụ. Vũ trụ sinh ra từ đâu? Trái đất có từ khi nào?, v.
có lẽ đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác mặc dù khoa học đã có những bước tiến rất cao siêu. Có một điều cả các triết gia phương Tây và phương Đông đều thừa nhận đó là vũ trụ diễn biến từ trạng thái này đếm trạng thái khác trong quá trình vận động, dường như bất tận. Hêraclít nói: "Tất cả đều qua, hết thảy đều trôi, không một cái gì ngừng. Vũ trụ như một dòng sông: người ta không tắm hai lần trên một dòng sông’’.
Đối với người Trung Hoa có một trong những nguyên lý quan trọng của vũ trụ là "biến dịch" điều này được thể hiện xuyên suốt tác phẩm "Kinh Dịch". Có ý kiến đã nhận xét: "Từ sự thừa nhận nguyên tắc biến hóa của trời đất, vạn vật đến dùng văn tự để hiểu chính lòng người, Kinh Dịch đã dung hòa khoa học, triết học trong việc khám phá vũ trụ, cải thiện nhân sinh, vũ trụ quan và nhân sinh quan của kinh dịch có một mối liên hệ vô cùng mật thiết, chúng đã nối liền lại với nhau bằng một hệ thống dọc, không một kẽ hở. Bởi vậy, người tinh thông dịch lý phải lĩnh hội lẽ cảm thông hòa hợp giữa người và vũ trụ". Vấn đề vũ trụ quan trong triết học theo chúng tôi không đơn giản chỉ là vấn đề bản thể của vũ trụ, các qui luật vận hành của vũ trụ mà là quan hệ của con người với vũ trụ ấy để từ đó đi đến một phương hướng, một quyết định cho hoạt động thực tiễn của mình.
Đây cũng là cơ sở cho sự thống nhất giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan. Xã hội quan bao gồm hệ thống các quan điểm về chính trị, xã hội, về các qui luật của các hình thái kinh tế - xã hội và các thiết chế tương ứng với nó. Cho đến nay chúng ta tin rằng có một giai đoạn nào đó loài người chưa có một xã hội với quan hệ đầy đủ của nó - nhà nước, pháp luật - mà chủ yếu xã hội được tổ chức trên cơ sở huyết thống và kinh nghiệm là chính. Chúng tôi z 22 tạm gọi là trạng thái "xã hội cảm tính".
Theo lý thuyết mác-xít, chỉ đến khi có sự phân công lao động xã hội, có sự phân chia giai cấp thì nhân loại mới có những xã hội được tổ chức trên cơ sở "lý tính". Tuy nhiên trước ngưỡng cửa này, phương Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng có những con đường không giống với phương Tây, người ta có thể gọi đó là "phương thức sản xuất châu Á" hay "chế độ nô lệ kiểu phương Đông", tùy theo nhãn quan của các nhà nghiên cứu. Ở Trung Quốc cổ đại các triết gia cũng đưa ra những mô hình xã hội mà họ hy vọng duy trì và đem lại sự phát triển cho xã hội. Có thể là duy trì xã hội Lễ, Nhạc, Tông pháp của nhà Chu như quan niệm của Khổng Tử, thậm chí quay lại xã hội "tiểu quốc, quả dân" hồn nhiên nguyên thủy như Lão Tử hoặc là xã hội “Kiêm ái”, “Thượng đồng”, của Mặc Tử và sáng suốt hơn là xã hội cai trị bằng pháp luật của Pháp gia, v.
Sự thay đổi các triều đại ở Trung Quốc cổ đại không theo con đường phát triển cách mạng mà thực chất là các cuộc nội chiến của các lực lượng khác nhau trong quá trình tiến đến nhà nước phong kiến tập quyền (nhà Tần). Nhân sinh quan là các hệ giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, v. và định hướng cho cuộc sống con người. Theo truyền thống những vấn đề triết học về nhân sinh ở Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng, thậm chí chiếm phần lớn sự quan tâm của nhiều trường phái triết học, nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia.