Thế Giới Quan Trong Triết Học Trung Quốc Cổ Đại: Nghiên Cứu Luận Án Tiến Sĩ

Nghiên cứu chuyên sâu Thế Giới Quan Trong Triết Học Trung Quốc Cổ Đại: Luận Án Tiến Sĩ, phương pháp luận hiện đại, kết quả ứng dụng thực tế trong

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

CNDVBC và CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2002

191
18
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VŨ TRỤ QUAN

1.1. Sơ lược về lịch sử, văn hóa triết học và bối cảnh kinh tế - xã hội Trung Quốc cổ đại

1.2. Đặc điểm lịch sử, văn hóa và triết học Trung Quốc cổ đại

1.3. Bối cảnh kinh tế - xã hội ở Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc

1.4. Sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất

1.5. Sự thay đổi quan hệ giai cấp

1.6. Khái luận chung về thế giới quan triết học và thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại

1.7. Vũ trụ quan trong triết học Trung Quốc cổ đại

1.7.1. Thời kỳ manh nha

1.7.2. Khí và Đạo – Hai khái niệm quan trọng trong vũ trụ quan Trung Quốc cổ đại

1.7.3. Quan niệm về nguồn gốc, các quy luật vận động của vũ trụ qua học thuyết Âm dương và tác phẩm Kinh Dịch

1.7.4. Học thuyết Ngũ hành

1.7.5. Sự hợp nhất và ứng dụng của học thuyết Âm dương - Ngũ hành

1.8. Vấn đề thời gian và không gian

1.8.1. Thời gian và lịch số

1.8.2. Thiên văn học và Không gian

2. CHƯƠNG 2: XÃ HỘI QUAN

2.1. Quan niệm về quốc gia và sự phân tầng xã hội

2.1.1. Quan niệm về quốc gia

2.1.2. Quan niệm về sự phân tầng trong xã hội

2.2. Các đường lối trị quốc và tư tưởng chính trị

2.2.1. Tư tưởng chính trị trong Kinh Dịch và thiên Cửu trù Hồng Phạm

2.2.2. Tư tưởng đức trị của Nho gia

2.2.3. Tư tưởng chính trị vô vi của Đạo gia

2.2.4. Tư tưởng pháp trị của Pháp gia

2.2.5. Tư tưởng “kiêm ái” và “hỗ lợi” của Mặc gia

2.3. Những tư tưởng kinh tế

2.3.1. Tư tưởng kinh tế của Mặc gia

2.3.2. Tư tưởng kinh tế của Nho gia

2.3.3. Đường lối kinh tế của Pháp gia

2.3.4. Tính biện chứng trong tư tưởng kinh tế chính trị của Binh gia

2.4. Mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị

2.5. Mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế

3. CHƯƠNG 3: NHÂN SINH QUAN

3.1. Con người là vũ trụ thu nhỏ

3.1.1. Nguồn gốc của con người và vấn đề thống nhất Thiên - Địa – Nhân

3.1.2. Vấn đề thiên mệnh

3.1.3. Vấn đề dự báo về số phận của con người

3.2. Vấn đề cá nhân và xã hội

3.2.1. Tính và dục

3.2.2. Quan niệm về tu dưỡng bản thân

3.2.3. Các triết lý về nhân sinh

Kết luận chung

Mục lục sách tham khảo

Các công trình liên quan đến đề tài đã công bố

Tóm tắt

I. VŨ TRỤ QUAN

Chương này tập trung vào việc phân tích thế giới quan trong triết học Trung Quốc cổ đại. Đặc điểm lịch sử, văn hóa và triết học của Trung Quốc cổ đại được xem xét từ góc độ vũ trụ quan. Nền văn minh Trung Quốc có nguồn gốc từ lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử, với khoảng 5000 năm lịch sử. Điều kiện tự nhiên đã tạo ra một mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và thiên nhiên, dẫn đến khái niệm 'thiên nhân hợp nhất'. Con người được coi là một phần của vũ trụ, và sự hòa hợp với thiên nhiên là một giá trị cốt lõi trong triết học cổ đại. Các triết gia như Lão Tử đã nhấn mạnh sự tương tác giữa con người và tự nhiên, thể hiện qua câu nói: 'Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo'. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa vũ trụ quannhân sinh quan trong tư tưởng triết học Trung Quốc.

1.1 Đặc điểm lịch sử văn hóa và triết học Trung Quốc cổ đại

Lịch sử và văn hóa của Trung Quốc cổ đại đã hình thành một thế giới quan đặc trưng, nơi con người được xem là trung tâm của vũ trụ. Các triết lý như Âm dươngNgũ hành đã định hình cách nhìn nhận về vũ trụ và con người. Sự phát triển của nông nghiệp đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho các quan hệ xã hội, với gia đình và tông tộc là hạt nhân. Các triết gia đã tìm kiếm những nguyên tắc đạo đức để duy trì trật tự xã hội, thể hiện qua các học thuyết của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia. Những quan niệm này không chỉ ảnh hưởng đến tư tưởng triết học mà còn định hình văn hóa và xã hội Trung Quốc trong suốt hàng ngàn năm.

1.2 Bối cảnh kinh tế xã hội ở Trung Quốc thời Xuân thu Chiến quốc

Thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong kinh tếxã hội. Sự xuất hiện của đồ sắt đã cải thiện năng suất nông nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phân tầng xã hội. Các triết gia đã phản ánh những biến động này trong tư tưởng của họ, tìm kiếm các giải pháp cho những khủng hoảng xã hội. Sự phát triển của các quốc gia nhỏ và cuộc chiến tranh giữa chúng đã tạo ra một bối cảnh phức tạp, nơi mà các tư tưởng triết học như Nho giáo, Đạo giáo và Pháp gia đã ra đời và phát triển. Những tư tưởng này không chỉ phản ánh thực tiễn xã hội mà còn định hình thế giới quan của người Trung Quốc cổ đại.

II. XÃ HỘI QUAN

Chương này phân tích xã hội quan trong triết học Trung Quốc cổ đại. Quan niệm về quốc gia và sự phân tầng xã hội được xem xét kỹ lưỡng. Các triết gia đã đưa ra những tư tưởng chính trị khác nhau, từ tư tưởng đức trị của Nho gia đến tư tưởng vô vi của Đạo gia. Những tư tưởng này không chỉ phản ánh thực tiễn xã hội mà còn định hình cách nhìn nhận về quyền lực và trách nhiệm của con người trong xã hội. Tư tưởng 'thiên nhân hợp nhất' cũng được áp dụng trong bối cảnh xã hội, nơi mà con người được coi là một phần của trật tự vũ trụ. Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa xã hội quanvũ trụ quan trong tư tưởng triết học Trung Quốc.

2.1 Quan niệm về quốc gia và sự phân tầng xã hội

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, quan niệm về quốc gia và sự phân tầng xã hội được thể hiện qua các học thuyết chính trị. Nho gia nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong quản lý nhà nước, trong khi Đạo gia lại đề cao sự tự do và không can thiệp. Các tư tưởng này đã tạo ra một bức tranh đa dạng về cách thức tổ chức xã hội. Sự phân tầng xã hội không chỉ dựa trên quyền lực mà còn dựa trên đạo đức và tri thức. Điều này cho thấy sự phức tạp trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cũng như vai trò của triết học trong việc định hình các giá trị xã hội.

2.2 Các đường lối trị quốc và tư tưởng chính trị

Các đường lối trị quốc trong triết học Trung Quốc cổ đại phản ánh những quan điểm khác nhau về quyền lực và trách nhiệm. Tư tưởng chính trị của Nho gia tập trung vào việc xây dựng một xã hội đạo đức, trong khi Pháp gia lại nhấn mạnh sự cần thiết của luật pháp và trừng phạt. Đạo gia, với tư tưởng vô vi, khuyến khích sự tự do và không can thiệp vào cuộc sống của người dân. Những tư tưởng này không chỉ ảnh hưởng đến chính trị mà còn định hình văn hóa và xã hội Trung Quốc, tạo ra một nền tảng cho sự phát triển của các giá trị nhân văn.

III. NHÂN SINH QUAN

Chương này tập trung vào nhân sinh quan trong triết học Trung Quốc cổ đại. Quan niệm về con người và mối quan hệ giữa con người với vũ trụ được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Các triết gia đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về nguồn gốc của con người, thiên mệnh và số phận. Những tư tưởng này không chỉ phản ánh thực tiễn xã hội mà còn định hình cách nhìn nhận về giá trị của con người trong vũ trụ. Sự kết hợp giữa nhân sinh quanvũ trụ quan tạo ra một bức tranh toàn diện về tư tưởng triết học Trung Quốc.

3.1 Con người là vũ trụ thu nhỏ

Trong triết học Trung Quốc cổ đại, con người được coi là một phần của vũ trụ, thể hiện qua khái niệm 'con người là vũ trụ thu nhỏ'. Các triết gia đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên, cho rằng con người không thể tách rời khỏi vũ trụ. Điều này dẫn đến những quan niệm về thiên mệnh và số phận, nơi mà con người được xem là một phần của một tổng thể lớn hơn. Những tư tưởng này không chỉ ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về con người mà còn định hình các giá trị văn hóa và xã hội trong suốt lịch sử Trung Quốc.

3.2 Vấn đề cá nhân và xã hội

Vấn đề cá nhân và xã hội trong triết học Trung Quốc cổ đại được thể hiện qua các quan niệm về tu dưỡng bản thân và trách nhiệm xã hội. Các triết gia đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng bản thân để đạt được sự hòa hợp với xã hội và vũ trụ. Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa cá nhân và xã hội, nơi mà mỗi cá nhân đều có trách nhiệm đối với cộng đồng. Những tư tưởng này không chỉ phản ánh thực tiễn xã hội mà còn định hình cách nhìn nhận về giá trị của con người trong vũ trụ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề của chủ nhĩa duy vật mang tính khoa học, vì vậy nó phải trải qua những giai đoạn thử thách và kiểm nghiệm, còn chủ nghĩa duy tâm có một sự tiện lợi,vì nó đặt niềm tin ở một đấng sáng tạo nào đó mà không cần sự phân tích và kiểm nghiệm. Có lẽ đó cũng là lý do cho sự tồn tại như cặp bài trùng của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học. Như vậy từ một quan niệm về vũ trụ , đi đến những quan niệm về nhân sinh (nhân sinh quan)là một trình tự cấu trúc chặt chẽ của triết học. Nhân sinh quan phải lấy vũ trụ quan làm cơ sở căn bản để triển khai các luận điểm.

Việc mở rộng các quan điểm nhân sinh quan ra môi trường cộng đồng, trong đó con người tồn tại chúng tôi gọi đó là xã hội quan. Triết học duy vật biện chứng coi toàn bộ thế giới với tất cả các sự vật hiện tượng trong đó là một chỉnh thể thống nhất(trong đó có cả con người z 19 và xã hội). Như vậy một hệ thống các quan điểm tổng thể về thế giới khách quan, đương nhiên phải gồm cả con người và xã hội. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi trình bày về thế giới quan triết học gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan.

Theo từ điển triết học (NXB Tiến Bộ Mátxcơva - có bổ xung và sửa chữa của NXB Sự Thật 1986): "Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình".” Theo nghĩa tổng quát đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội, chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học, v. các quan điểm triết học, hợp thành hạt nhân chủ yếu của mọi thế giới quan. Vấn đề cơ bản của triết học cũng là vấn đề chủ yếu của thế giới quan, đó là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách giải quyết vấn đề cơ bản đó mà người ta có thể chia thế giới quan triết học thành duy vật hay duy tâm.

Thế giới quan trực tiếp phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của con người đạt được trong từng giai đoạn lịch sử. Như vậy thế giới quan mang tính lịch sử. Trong xã hội có phân chia giai cấp thì thế giới quan cũng còn mang tính giai cấp. Thế giới quan tiêu biểu của các xã hội bao giờ cũng là thế giới quan của giai cấp thống trị xã hội đó”.

Thế giới quan triết học có một ý nghĩa không chỉ đơn thuần về mặt lý luận và nhận thức, mà nó còn có ý nghĩa lớn lao về thực tiễn nữa, biểu hiện cách nhìn bao quát đốí với vũ trụ, quyết định thái độ và là kim chỉ nam cho hành động của con người. Nhờ đã phát hiện những qui luật khách quan của tự nhiên và của xã hội nên thế giới quan khoa học và tiến bộ hướng những hoạt động của con người đúng theo xu hướng phát triển. Ở đây chúng tôi cũng xin lưu ý thêm khái niệm “thế giới quan “ và khái niệm “thế giới quan triết học “có một sự khác nhau rất lớn, “thế giới quan”nhiều khi được hiểu đó là một cách quan niệm về một vấn đề nào đó trong thế giới khách quan; còn “thế giới quan triết học” là những khái niệm có tính hệ thống, lý luận và tổ chức theo một lôgic nhất định, trên cơ sở đó có thể triển khai các thao tác suy luận của tư duy để gia tăng kiến thức, có thể z 20 ứng dụng cho các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nói cách khác thế giới quan triết học phải trở thành phương pháp luận. Như vậy chúng ta nhận thấy với tính lịch sử, tính giai cấp, tính duy tâm hay duy vật về mặt lập trường triết học, thế giới quan triết học nói chung biểu hiện tính tương đối và do đó không có một hệ thống thế giới quan nào đạt được các giá trị ổn định và bất biến, vấn đề là ở chỗ nó đạt được tính khoa học và khách quan đến mức độ nào về mặt khoa học mà thôi.

Cùng với sự phát triển của các khoa học của nhân loại qua các thời đại khác nhau, thế giới quan triết học càng ngày càng giúp cho con người có cái nhìn bao quát về thế giới khách quan đầy đủ hơn. Tại đây chúng tôi cũng xin nói thêm rằng: dù là ở thời đại nào với trình độ nào thì những tra vấn triết học đầu tiên vẫn là câu hỏi về thế giới khách quan quanh mình, nó tóm tắt trong câu hỏi có tính chất nêu vấn đề "nhìn chung thế giới quanh ta là gì?" những câu trả lời khác nhau trong các lĩnh vực là cơ sở cho sự phân loại các ngành khoa học khác nhau. Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học làm cho chúng ta tưởng chừng các khoa học là độc lập và tách biệt, song nhiệm vụ của triết học vẫn là đưa ra một cái nhìn tổng quan và khái quát về thế giới trên cơ sở các thành tựu của những ngành khoa học khác nhau. Theo chúng tôi có lẽ đây là “đối tượng riêng” mang tính truyền thống của triết học nói chung và thế giới quan triết học nói riêng.

Trên cơ sở quan niệm như vậy về thế giới quan triết học chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách quan niệm của mình để sử dụng cho công việc: "thế giới quan triết học là hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế giới khách quan, mang tính định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn". Cụm từ “Hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế giới khách quan” mà chúng tôi dùng ở đây được hiểu là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan bên ngoài con người với tất cả các qui luật vận động của nó. Cụm từ “mang tính định hướng cho con người” được hiểu là từ một quan niệm về thế giới bên ngoài đi đến những quyết định cho các hành vi của con người trong các hoạt động của đời sống và quan hệ xã hội. Khái niệm "họat động thực tiễn" mà chúng tôi dùng trong định nghĩa này được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động của con z 21 người trong quá trình sản xuất ra các giá trị của đời sống vật chất cũng như các giá trị của đời sống tinh thần.

Như ở trên đã nói, cấu trúc của thế giới quan gồm: vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan. Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày nội hàm của các khái niệm trên. Vũ trụ quan là hệ thống các học thuyết về qui luật cấu thành, phát sinh, phát triển và vận hành của vũ trụ. Vũ trụ sinh ra từ đâu? Trái đất có từ khi nào?, v.

có lẽ đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác mặc dù khoa học đã có những bước tiến rất cao siêu. Có một điều cả các triết gia phương Tây và phương Đông đều thừa nhận đó là vũ trụ diễn biến từ trạng thái này đếm trạng thái khác trong quá trình vận động, dường như bất tận. Hêraclít nói: "Tất cả đều qua, hết thảy đều trôi, không một cái gì ngừng. Vũ trụ như một dòng sông: người ta không tắm hai lần trên một dòng sông’’.

Đối với người Trung Hoa có một trong những nguyên lý quan trọng của vũ trụ là "biến dịch" điều này được thể hiện xuyên suốt tác phẩm "Kinh Dịch". Có ý kiến đã nhận xét: "Từ sự thừa nhận nguyên tắc biến hóa của trời đất, vạn vật đến dùng văn tự để hiểu chính lòng người, Kinh Dịch đã dung hòa khoa học, triết học trong việc khám phá vũ trụ, cải thiện nhân sinh, vũ trụ quan và nhân sinh quan của kinh dịch có một mối liên hệ vô cùng mật thiết, chúng đã nối liền lại với nhau bằng một hệ thống dọc, không một kẽ hở. Bởi vậy, người tinh thông dịch lý phải lĩnh hội lẽ cảm thông hòa hợp giữa người và vũ trụ". Vấn đề vũ trụ quan trong triết học theo chúng tôi không đơn giản chỉ là vấn đề bản thể của vũ trụ, các qui luật vận hành của vũ trụ mà là quan hệ của con người với vũ trụ ấy để từ đó đi đến một phương hướng, một quyết định cho hoạt động thực tiễn của mình.

Đây cũng là cơ sở cho sự thống nhất giữa vũ trụ quan và nhân sinh quan. Xã hội quan bao gồm hệ thống các quan điểm về chính trị, xã hội, về các qui luật của các hình thái kinh tế - xã hội và các thiết chế tương ứng với nó. Cho đến nay chúng ta tin rằng có một giai đoạn nào đó loài người chưa có một xã hội với quan hệ đầy đủ của nó - nhà nước, pháp luật - mà chủ yếu xã hội được tổ chức trên cơ sở huyết thống và kinh nghiệm là chính. Chúng tôi z 22 tạm gọi là trạng thái "xã hội cảm tính".

Theo lý thuyết mác-xít, chỉ đến khi có sự phân công lao động xã hội, có sự phân chia giai cấp thì nhân loại mới có những xã hội được tổ chức trên cơ sở "lý tính". Tuy nhiên trước ngưỡng cửa này, phương Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng có những con đường không giống với phương Tây, người ta có thể gọi đó là "phương thức sản xuất châu Á" hay "chế độ nô lệ kiểu phương Đông", tùy theo nhãn quan của các nhà nghiên cứu. Ở Trung Quốc cổ đại các triết gia cũng đưa ra những mô hình xã hội mà họ hy vọng duy trì và đem lại sự phát triển cho xã hội. Có thể là duy trì xã hội Lễ, Nhạc, Tông pháp của nhà Chu như quan niệm của Khổng Tử, thậm chí quay lại xã hội "tiểu quốc, quả dân" hồn nhiên nguyên thủy như Lão Tử hoặc là xã hội “Kiêm ái”, “Thượng đồng”, của Mặc Tử và sáng suốt hơn là xã hội cai trị bằng pháp luật của Pháp gia, v.

Sự thay đổi các triều đại ở Trung Quốc cổ đại không theo con đường phát triển cách mạng mà thực chất là các cuộc nội chiến của các lực lượng khác nhau trong quá trình tiến đến nhà nước phong kiến tập quyền (nhà Tần). Nhân sinh quan là các hệ giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo, v. và định hướng cho cuộc sống con người. Theo truyền thống những vấn đề triết học về nhân sinh ở Trung Quốc chiếm một vị trí quan trọng, thậm chí chiếm phần lớn sự quan tâm của nhiều trường phái triết học, nhất là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Thế Giới Quan Trong Triết Học Trung Quốc Cổ Đại: Nghiên Cứu Luận Án Tiến Sĩ" tập trung vào việc phân tích và làm rõ các khía cạnh của thế giới quan trong triết học cổ đại Trung Quốc, từ đó giúp người đọc hiểu sâu hơn về những tư tưởng triết học đã hình thành và ảnh hưởng đến văn hóa và xã hội. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các trường phái triết học mà còn chỉ ra sự liên kết giữa triết học và thực tiễn xã hội trong bối cảnh lịch sử. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ việc nắm bắt các khái niệm triết học cơ bản, cũng như cách mà chúng vẫn còn ảnh hưởng đến tư duy hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về triết học phương Đông, bạn có thể tham khảo bài viết "Tài Liệu Tham Khảo Về Chuyên Đề Triết Học Phương Đông Cổ Đại", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chuyên đề triết học trong khu vực này. Ngoài ra, bài viết "Tư tưởng biện chứng trong triết học Nho giáo và tác động của nó đối với Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của triết học Nho giáo đến văn hóa Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu ngôn ngữ biểu thị tình cảm và ảo mộng tình yêu trong thơ Đinh Hùng" cũng có thể mang lại cho bạn những góc nhìn thú vị về cách mà triết học và văn học giao thoa với nhau trong việc thể hiện cảm xúc và tư tưởng.