Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ PHI LÍ TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC Cái phi lí là gì và nguồn gốc của nó như thế nào? Trong phần này, chúng tôi sẽ đi vào trình bày khái quát về vấn đề phi lí trong triết học và văn học. Qua đó, người viết sẽ liên hệ, làm rõ quá trình xuất hiện của “cái phi lí” trong văn học Việt Nam cũng như sự xuất hiện của cây bút Tạ Duy Anh. Phi lí trong triết học 1. Thời kì cổ đại Có thể nói, triết học là khoa học của mọi khoa học.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi muốn làm rõ lịch sử của vấn đề phi lí qua các thời đại, khởi nguồn là phi lí trong triết học. Trong chuyên luận Văn học phi lí của Nguyễn Văn Dân có viết: “Khái niệm phi lí đã xuất hiện từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Zenon và Aristote đã áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lí logic (tức là phương pháp lập luận dựa vào giả thiết phi lí). Trong lịch sử, Zenon đã đưa ra bài toán rất nghịch lí: Asin – dũng sĩ trong thần thoại Hi Lạp có tài chạy nhanh nhất nhưng vẫn không đuổi kịp được một con rùa.
Phương pháp này chứng minh cho thấy những kết quả sai lầm của một giả thiết để bác bỏ giả thiết đó. Hình học Euclide (thế kỉ III trước CN) cũng thường xuyên sử dụng phương pháp ngụy biện để chứng minh các định luật hình học” [39, tr. Nhìn chung, thời kì này, khái niệm về cái phi lí đã xuất hiện nhưng chưa được đưa ra một cách rõ ràng, cụ thể. Thời kì trung đại Đến thời trung đại, nhà bác học La Mã Tertullianus (155-1626) đã dùng phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí của một sự đánh giá bằng cách chỉ ra tính chất sai lầm của mặt trái sự đánh giá đó.
Ông đã có một câu nói rất nổi tiếng: “Tôi tin vì nó phi lí”. Vào thế kỉ XVI, nhà triết học người Anh Fr.Bacon dùng phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí bằng cách chỉ ra tính chất sai lầm ở phía phản chân lí. Nhà triết học người Anh khác là Th.Hobbes (1588-1679) lần đầu tiên trong lí thuyết về “các âm thanh vô nghĩa” cũng đã giải thích sự phi lí thông qua sự rối loạn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trật tự logic ngôn ngữ học. Ông cho rằng những từ trái nghĩa đứng cạnh nhau thì chỉ làm thành một âm thanh đơn thuần chứ không phải là một khái niệm có nghĩa, ví dụ như cách nói “một vật thể vô thể”.
Trên phương diện logic học thì người ta quan niệm những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là “phi lí”. Có một định nghĩa thứ hai mang tính chất khái quát hơn và nó vượt ra ngoài địa hạt của logic học khi nó cho rằng “tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lí trí, không thể lí giải được bằng tư duy, thì đều được coi là phi lí. Như vậy, cái phi lí là cái phản lí tính” [39, tr. Định nghĩa này dã được nền triết học phương Tây hiện đại phát triển thành chủ nghĩa phi lí tính từ cuối thế kỉ XVIII và kéo dài suốt hơn một thế kỉ.
Từ cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX Vào cuối thế kỉ XVIII, chủ nghĩa phi lí tính hiện đại đã xuất hiện làm cơ sở triết học cho văn học phi lí và kéo dài cho đến tận thế kỉ XX. Georgy Lukacs cho rằng chủ nghĩa này nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Đặc điểm của chủ nghĩa phi lí tính là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lí trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác như: chủ nghĩa của Bergson, Croce… Một số người cho rằng cái phi lí tính là nguồn gốc của hoạt động lí tính, của tư duy, nhưng nó không được tư duy biết đến. Những người khác cho rằng chủ nghĩa phi lí tính xuất hiện khi lí trí tỏ ra bất lực trong việc thâm nhập vào bản chất sâu kín cuối cùng của sự việc.
Nhiều nhà văn, nhà tiểu luận văn học hoặc nhà thơ ở thế kỉ XX cũng đã tuyên bố sự phá sản của lí trí. Họ đã có xu hướng muốn lật đổ lâu đài của lí trí thuần túy để chỉ đề cập đến cuộc sống sinh động của xã hội, của con người. Có lẽ đây là một phản ứng chống lại những quan niệm cực đoan khô cứng của chủ nghĩa duy lí. Phi lí là một khía cạnh của chủ nghĩa hiện sinh, nói cách khác, một bước phát triển đặc biệt của khái niệm triết học về cái phi lí là giai đoạn chủ nghĩa hiện sinh (với các nhà hiện sinh nổi tiếng như Kierkegaard, Heidegger và Jasper).
Cả ba người đều chống lại lí tính, chống lại Descartes, bởi họ cho rằng chủ nghĩa duy lí Descartes chỉ nhằm vào con người trừu tượng chứ không xác định được con người 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cụ thể, con người cá nhân. Heidegger phê phán cái tư duy trong câu “Tôi nghi ngờ là tôi tư duy, tôi tư duy là tôi tồn tại” là không thể nắm bắt được sự hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh là “khuynh hướng triết học hình thành trước đại chiến I ở Nga với Sextop (Chestov, 1866 – 1938), Be đyaep (Berdiaeff, 1866 – 1948), sau đại chiến I ở Đức với M.Camus (1913-1960), sau đó phổ biến ở các nước khác tại chấu Âu và Hoa Kì”. Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo ra giữa lí tính và thực tại một hố sâu ngăn cách khó có thể vượt qua - sự phi lí.
Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lí. Kierkegaard nói đến “cái nghịch lí” của nhận thức và của tồn tại. Ở Heidegger thì ngự trị khái niệm về „sự bất an”, còn các nhà hiện sinh chủ nghĩa người Pháp thì có cảm giác đậm nét về cái phi lí. Về sau, trong quan niệm của hai nhà đại diện chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh Pháp thế kỉ XX là J.
Sartre (1950-1980) với các tác phẩm triết học chính: Bản thể và hư vô, Phê phán lí tính biện chứng và A.Camus với tập tiểu luận triết học: Huyền thoại Sisyphe thì cái phi lí trở thành khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh. Trong các tác phẩm triết học và văn học của mình, Sartre không chỉ quan niệm cái phi lí xuất hiện do có sự bất đồng giữa lí tính với thực tại nhân bản, mà ông còn tuyên bố chính cái thực tại nhân bản là một thực tại phi lí, một thực tại của vật tự nó. Đến Camus thì tư tưởng về cái phi lí đã trở thành nỗi ám ảnh trong suốt cuộc đời của ông, nó làm thành đề tài trọng tâm của các tiểu luận triết học và thấm đậm trong mọi tác phẩm văn học của ông. Trong cuốn Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã chỉ rõ: “triết học hiện sinh về cơ bản là triết học phi lí hay triết học của cái phi lí…” [50, tr.
18] Như vậy, cái phi lí trong triết học là một khái niệm triết học có lịch sử phát triển lâu dài và có những chuyển biến qua từng thời kì. Từ thời Hy Lạp cổ đại với Aristote, Zenon, qua thế kỉ XVI với Bacon (Anh), đến thế kỉ XX đã tạo mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển và hoàn thiện ý thức, quan niệm về cái phi lí. Và khi cái phi lí đã đạt đến đỉnh điểm của mình cùng với nhà triết học kiêm nhà văn Camus thì 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sau ông hầu như không còn nhà triết học nào bàn đến nó nữa, mà chỉ được thể hiện trong sáng tác của các nhà văn. Có nhiều nhà văn không phải là nhà triết học nhưng cũng thể hiện cái phi lí trong tác phẩm của mình và làm thành nguồn cảm hứng triết học cho các nhà triết học khác.
Tuy nhiên, khái niệm phi lí trong triết học và trong văn học không phải là khái niệm một chiều mà luôn tương tác, bổ sung cho nhau. Các nhà văn thường xem xét cái phi lí ở hai khía cạnh: cái không hợp lí, trái logic trong đời sống và nhận thức bi đát về thân phận con người. Phi lí trong văn học Cái phi lí trong văn học không phải là một sự sao chép máy móc cái phi lí trong triết học. Triết học cho rằng cái phi lí là con đẻ của tính bất khả tri của lí tính trong khi các nhà văn vẫn cố gắng nhận thức cái phi lí, lí trí vẫn nhận thức được và có kết quả là cái phi lí phản lí tính.
“Khái niệm cái phi lí trong văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lí có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức của con người” [39, tr. Khác với chủ nghĩa phi lí tính trong triết học là khẳng định sự bất khả tri của lí trí trước sự bất hợp lí của thực tại và chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức, thì văn học phi lí là một thứ triết học hành động của các nhà trí thức phương Tây. Các nhà văn phi lí không chỉ mô tả cái phi lí, mà quan trọng hơn là họ còn hành động chống lại cái phi lí đó. Và hành động chống lại cái phi lí chính là một phản ứng của thời đại lịch sử.
Nhà nghiên cứu người Rumani Nicolae Balota, một chuyên gia về văn học phi lí đã cho rằng nguồn gốc của văn học phi lí hiện đại là tất cả những sáng tác từ văn học dân gian đến văn học thành văn qua các thời đại, có sử dụng các thủ pháp châm biếm, hài hước, nghịch dị, chiêm bao một cách ngược đời, vô nghĩa, vô lí. Trong dân gian Việt Nam đã có những bài ca dao, đồng dao mô tả những chuyện phi lí, ngược đời như: Bao giờ cho đến tháng ba, Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng. Hùm nằm cho lợn liếm lông, Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi. Nắm xôi nuốt trẻ lên mười 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Con gà nậm rượu nuốt người lao đao.
Rồi bài: Trời mưa cho mối bắt gà, Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao Hay câu thơ ca ngợi lãnh chúa La Palice (1470-1525) khá ngây ngô: "Mưởi lăm phút trước khi chết/ Ngài còn sống ở trên đời. Trước khi “chết” thì điều hiển nhiên là con người phải ở trạng thái “sống” rồi.