Chương 1, người viết tập trung sáng tỏ những vấn đề lý luận về tài sản là quyền sở hữu trí tuệ và thế chấp bằng loại tài sản này. 5 Các vấn đề này được ghi nhận tại các bài viết học thuật/nghiên cứu kể đến như: i). WIPO (2019): “International Conference on Intellectual Property and Development: How to Benefit from the IP System”, World Intellectual Property Organization, Home - In Focus, https:// www.i nt/ portal/ en/news/2019 /article_0020.html, access on 22/6/2023; ii). ICC BASCAP (2019): “Promoting and Protecting Intellectual Property in Vietnam”, International Chamber of Commerce, Home - News and publications”, https://iccwbo.org/news-publications/ polici esreports/icc-bascap-promoting-and-protecting-intellectual-property-in-vietnam/, access on 22/62023.
6 Đồng quan điểm này, tác giả Kamil Idris cũng cho rằng: “Sở hữu trí tuệ được xem là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia”. Xem thêm: Kamil Idris (2005): “Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”, Nxb.4 7 Điều này được ghi nhận ở khái niệm chung về tài sản tại Điều 105, Điều 115 và Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hay tại Điều 8, Điều 17 Nghị định: 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng có những đề cập xung quanh vấn đề này. Khái quát chung về tài sản là quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ “Quyền sở hữu trí tuệ” một thuật ngữ pháp lý tồn tại khá sớm ở một số quốc gia và chính thức được ghi nhận trong văn kiện quốc tế - Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới Wipo – 1967.
Trong đó, tại Điều 2 của Công ước ghi nhận: “Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan: i) Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; ii). Buổi biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn,…. và tất cả các quyền khác phát sinh từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật.” Có thể hiểu rằng được xem là các quyền sở hữu trí tuệ một khi chúng được tạo lập/xác lập trong những hoạt động phát sinh từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật. Về sau, chúng được triển khai và khái quát với nhiều góc độ khác nhau tại các Điều ước/Hiệp định quốc tế về sở hữu trí tuệ8.
Tiếp nối sự ghi nhận trên việc xây dựng và phát triển cách hiểu/khái niệm riêng về “quyền sở hữu trí tuệ” trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nhìn nhận rằng: tại Bộ luật Dân sự năm 1995, tuy đã có đề cập đến loại tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (Điều 745 đến Điều 825) nhưng vẫn chưa ghi nhận nên cách hiểu như thế nào về “quyền sở hữu trí tuệ”. Mãi về sau, khi nước nhà bước vào những tiến trình hội nhập mới việc đòi hỏi một đạo luật riêng để điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực sở hữu trí tuệ phải được ban hành. Ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8, khóa XI Quốc Hội thông qua và ban hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, đây là văn bản đánh dấu bước đi mới của nước nhà trong việc ngày càng đánh giá tầm quan trọng của loại tài sản này trong thời đại mới.
Trong đó, tại khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 phổ quát như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.” Và cho đến thời điểm hiện tại, khái niệm này vẫn không có sự thay đổi qua 03 lần pháp điển hóa sau (sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019, năm 2022). 8 Tại Khoản 2 Điều 1 Hiệp định Trips về sở hữu trí tuệ năm 1994. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ Tồn tại cả trong những khái quát cơ bản về đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ trong khoa học pháp lý và cả trong bản chất đặc trưng riêng của loại tài sản này các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đã tạo ra những điểm khác căn bản đối với các loại tài sản khác. Một là, tồn tại căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ theo đúng quy định của pháp luật.
Đặc trưng được cho là riêng biệt mà chỉ có ở loại tài sản này là việc nếu tài sản khác (vật, tiền,…)9 được xác lập trên cơ sở thông qua việc xác định chủ thể (cá nhân/tổ chức) đó được xem là chủ sở hữu đối với tài sản kể từ thời điểm chủ thể đó có được/xác lập đối với tài sản trong một số trường hợp (lao động, chuyển quyền sở hữu, chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự hiện hành,…)10 nhưng đối với quyền sở hữu trí tuệ thì việc xác lập này được thể hiện qua 02 vấn đề: i). Phát sinh/xác lập một cách tự nhiên/tự phát – tự động phát sinh: đây là điểm riêng biệt ở một số đối tượng quyền sở hữu trí tuệ kể đến như: quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu nổi tiếng được phát sinh/xác lập tại cùng một thời điểm xuất hiện của đối tượng quyền này mà không cần phải tiến hành đăng ký với các chủ thể có thẩm quyền. Cụ thể: + Đối với quyền tác giả: quyền này sẽ phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo ra và được thể hiện dưới một phương thức/hình thức nhất định (vật chất), không phân biệt nội dung, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ hay chất lượng,… đã đăng ký hay chưa đăng ký, công bố hay chưa công bố. + Đối với quyền liên quan sẽ được phát sinh kể từ thời điểm cuộc biểu diễn, bản ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã 9 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.
10 Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015. được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến quyền tác giả (nhân thân/tài sản). + Đối với quyền sở hữu công nghiệp với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó riêng đối với bí mật kinh doanh thì được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện cơ chế bảo mật các bí mật kinh doanh đó. Và đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở chủ thể quyền sử dụng nhãn hiệu này tức không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.
Phát sinh trên cơ sở đăng ký: khác biệt đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ nêu trên, một số đối tượng quyền khác việc xác lập/phát sinh trên cơ sở đăng ký với các chủ thể/cơ quan có thẩm quyền và theo đúng trình tự, thủ tục luật định (pháp luật về sở hữu trí tuệ). Một khi các chủ thể quyền thỏa mãn điều kiện để được xem là có căn cứ/cơ sở, xác lập quyền sở hữu trí tuệ thì việc được xem xét cấp các văn bằng/chứng chỉ bảo hộ - với mục đích thừa nhận chủ thể quyền (cá nhân, tổ chức) đối với quyền sở hữu trí tuệ đó trong phạm vi, thời hạn theo luật định. Cụ thể: Quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế/giải pháp hữu ích kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu (trừ nhãn hiệu nổi tiếng), chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn,. và quyền đối với giống cây trồng sẽ được xác lập trên cơ sở quyết định của chủ thể là các cơ quan nhà nước cấp có thẩm quyền có liên quan.
Hai là, tính giới hạn quyền bảo hộ. Đặc thù của các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ này là việc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn một cách hợp lý (phạm vi lãnh thổ, thời gian bảo hộ hoặc giới hạn bởi quyền/lợi ích chính đáng của người khác, cộng đồng). Cụ thể: + Tính giới hạn về phạm vi lãnh thổ - không gian được bảo hộ. Các chủ thể quyền (cá nhân/ tổ chức) chỉ được thực hiện quyền đối với các đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ của mình trong phạm vi được xác định (quốc gia, quốc tế) tùy thuộc vào việc đăng ký bảo hộ đối tượng quyền này của các chủ thể và/hoặc theo thông lệ tại các Điều ước/Hiệp ước quốc tế song phương/đa phương hay diện rộng mà Việt Nam với tư cách là thành viên của các Điều ước đó.
13 + Tính giới hạn về thời hạn được bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Tính nguyên tắc này được đặt ra không chỉ riêng tại pháp luật sở hữu trí tuệ nước nhà mà tại các quốc gia trên thế giới về việc xác định/ghi nhận: i). Thời gian được bảo hộ; ii). Nguyên tắc bảo hộ; iii).
Vấn đề bảo hộ, khai thác/sử dụng các đối tượng quyền này. Vấn đề ghi nhận này không chỉ góp phần thúc đẩy việc phát triển của xã hội (tiếp cận/học hỏi và phát triển) trong việc quản trị tài sản trí tuệ này trong xã hội hiện nay mà còn tạo tiền đề lớn cho việc nghiên cứu sáng tạo khoa học, kỹ thuật mới. Một đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho dù đã được bảo hộ tại một quốc gia thì chưa đồng nghĩa với việc sẽ được bảo hộ ở mọi quốc gia. Ba là, quyền sở hữu trí tuệ với tính chất vô hình11 tức không chiếm hữu/không nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp.
Đặc tính vô hình được xác định bởi đối tượng quyền này được sáng tạo ra từ lao động trí óc – hoạt động của sự sáng tạo, tìm tòi, khám phá các tri thức khoa học – công nghệ trong từng lĩnh vực được hiện hữu ở nhiều nơi – khả năng di động một cách không giới hạn. Tuy nhiên, dù là bản chất vô hình (thông qua các dạng thông tin, hình ảnh, công thức.) nhưng loại tài sản này cũng có thể xác định/định giá được thành một tài sản trị giá thành tiền và được thực hiện với nhiều phương thức thương mại hóa tài sản trí tuệ này trên thực tế (góp vốn, đầu tư, nhượng quyền,……) để con người có thể nhận biết, lưu trữ và sử dụng. Bốn là, tạo ra các quyền khác nhau cho các chủ thể quyền (quyền nhân thân/quyền tài sản). Các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được xác lập/phát sinh trên cơ sở của một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức tham gia việc tạo lập ra các đối tượng quyền cụ thể (quyền tác giả và/hoặc quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng).
Việc làm này thông qua nhiều cơ sở đồng tác giả, thuê mướn, giao việc, thừa kế,….