CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG, TÍN DỤNG VÀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các loại hình doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các loại phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế. Ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật. Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân.
Việc đưa ra khái niệm niệm về ngân hàng thương mại là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính ban hành ngày 24/05/1990: “ Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Như vậy, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Chức năng Thứ nhất, NHTM là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, tiếp xúc với hai loại khách hàng cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế.
NHTM huy động vốn từ những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi, và cho vay các cá nhân, tổ chức có nhu cầu vốn hợp pháp bằng nguồn vốn huy động này. Trong hoạt động này, trung gian tài chính làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích tiết kiệm. Bên cạnh đó, trung gian tài chính còn giảm phí tổn cho người đầu tư, từ đó cũng khuyến khích đầu tư. Vì vậy, trung gian tài chính đã khắc phục những hạn chế của tín dụng trực tiếp, đưa nguồn vốn đến tay nhà đầu tư nhanh chóng và thuận tiện hơn, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, NHTM tạo phương tiện thanh toán. Khách hàng có thể thanh toán tiền mua hàng hóa và dịch vụ thông qua số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình. Thứ ba, NHTM là trung gian thanh toán. Thay mặt khách hàng, NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, thông qua các hình thức như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ,… để việc thanh toán trở nên nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí hơn.
Ngoài ra, các NHTM còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc các trung tâm thanh toán. Xét theo tính chất và mục tiêu hoạt động - Ngân hàng thương mại: là loại hình ngân hàng phổ biến nhất trong nền kinh tế hiện nay, được quyền thực hiện mọi dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn huy động và cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng. - Ngân hàng đầu tư: hoạt động chính là đầu tư tài chính và kinh doanh chứng khoán, không được phép huy động vốn và cấp tín dụng.
Nguồn vốn chủ yếu là vốn cổ phần và vốn đi vay bằng cách phát hành trái phiếu ngân hàng. Ở Việt Nam hiện chưa có ngân hàng đầu tư nhưng trong tương lai sẽ hình thành từ sự chuyển đổi mô hình công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư. 5 - Ngân hàng phát triển: có nguồn vốn dựa hẳn vào vốn điều lệ và một phần vốn từ các nguồn tài trợ của Chính phủ, các tổ chức tài chính. Ngân hàng sử dụng các nguồn vốn này để đầu tư phát triển các công trình, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, hoặc tài trợ phát triển các đối tượng cần sự giúp đỡ.
Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận như ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư, mà là vì sự phát triển ổn định của toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Xét theo loại hình hoạt động - Ngân hàng bán buôn: là những ngân hàng có quy mô lớn, hoặc rất lớn. Khách hàng vay vốn là những khách hàng lớn, gồm các ngân hàng thương mại có quy mô vừa và nhỏ, các tổ chức tín dụng khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, các tập đoàn, công ty có quy mô lớn. Hoạt động tín dụng mang tính chất “bán buôn”, nghĩa là các khoản tín dụng có giá trị lớn, hoặc được thực hiện thông qua thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất thị trường. - Ngân hàng bán lẻ: là những ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trực tiếp đến khách hàng vừa và nhỏ (gốm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân). Ngân hàng bán lẻ đưa sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến mọi đối tượng, tầng lớp trong xã hội, với sự đa dạng, phong phú và tiện ích. Xét theo lĩnh vực hoạt động - Ngân hàng chuyên doanh: có tính chuyên môn hóa cao, có sự phân biệt rõ về chuyên ngành và lĩnh vực kinh doanh: o Có sự tách biệt pháp lý giữa các hoạt động ngân hàng như ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
o Có sự phân biệt giữa các nghiệp vụ như ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng cầm cố, ngân hàng đầu tư. - Ngân hàng đa năng: hoạt động không bị bó hẹp trong một ngành hay lĩnh vực nào, không có sự tách biệt pháp lý hay phân biệt trong nghiệp vụ ngân hàng. 6 Đây là những ngân hàng được cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, đầu tư chứng khoán, bảo hiểm. Xét theo hình thức sở hữu - Ngân hàng thương mại Nhà nước: có 100% vốn của Nhà nước, hoặc ngân hàng cổ phần do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.
- Ngân hàng thương mại cổ phần: do các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn để thành lập. Khái niệm Có thể nói: tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn.
Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế-xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.” Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau: - Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. 7 - Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay). Chức năng Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, tín dụng thực hiện ba chức năng cơ bản sau: 1/ Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay nhờ đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi. Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằng hai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp.
• Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thương mại và việc phát hành trái phiếu của các công ty. • Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổ chức tài chính trung gian như, ngân hàng, công ty tài chính. 2/ Chức năng tiết kiệm tiền mặt Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng, từ đó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế.