Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY PHỤC VỤ NHU CẦU ĐỜI SỐNG TẠI NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ 1. Cơ sở lý luận về cho vay phục vụ nhu cầu đời sống tại ngân hàng Hợp Tác Xã 1. Hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu đời sống tại ngân hàng Hợp Tác Xã 1. Tổng quan về ngân hàng Hợp Tác Xã Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (tên tiếng Anh là "Co-operative Bank of Viet Nam", viết tắt: Ngân hàng HTX VN), là một ngân hàng hợp tác xã tại Việt Nam, thành lập năm 2013 theo hình thức chuyển đổi.
Ngân hàng Hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng Hợp tác xã được phép thực hiện cho vay đối với khách hàng không phải là quỹ tín dụng nhân dân thành viên khi đã ưu tiêu đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn của quỹ tín dụng nhân dân thành viên. Như vậy, cũng giống như các NHTM, ngân hàng hợp tác xã trong quá trình hoạt động cũng cho các tổ chức và cá nhân vay vốn khi họ đáp ứng được đầy đủ các điều kiện cho vay. Khái niệm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống Căn cứ Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lăi”.
Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống được định nghĩa tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành như sau: “Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân và gia đình cá nhân. 5 Như vậy cho vay phục vụ nhu cầu đời sống là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân, gia đình cá nhân đó. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp họ trang trải nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ. Bên cạnh đó, cho vay phục vụ nhu cầu đời sống còn đáp ứng những tiêu chí cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch.
Đặc điểm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống - Số lượng các khoản vay lớn nhưng quy mô của các khoản vay thường nhỏ vì cho vay phục vụ nhu cầu đời sống thường để đáp ứng các nhu cầu về chi tiêu hàng ngày. - Lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống thường cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp. Lí do cơ bản là vì các khoản cho vay phục vụ nhu cầu đời sống phần lớn không có tài sản đảm bảo, khách hàng có thu nhập thấp nên có độ rủi ro cao hơn, đồng nghĩa với việc ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí hơn để bù đắp rủi ro, cùng với đó là chi phí về hệ thống quản trị, về con người. để quản trị rủi ro phù hợp.
Lí do nữa là do đối tượng vay vốn của loại hình cho vay phục vụ nhu cầu đời sống có thu nhập thấp hơn,dư nợ nhỏ và thời hạn vay ngắn, hình thức trả nợ theo định kỳ. làm tăng chi phí quản lý các khoản vay dẫn đến lãi suất cao. - Nhu cầu vay của khách hàng hầu như ít co giãn với lãi suất. Khách hàng thường quan tâm đến số tiền họ phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất mà họ phải chịu.
- Nhu cầu vay phục vụ nhu cầu đời sống của khách hàng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, mọi người lạc quan về tương lai, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn, nhu cầu vay phục vụ nhu cầu đời sống cũng tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng lên thì người dân sẽ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn, theo đó nhu cầu vay phục vụ nhu cầu đời sống cũng giảm. - Mức thu nhập và trình độ học vấn có quan hệ mật thiết tới nhu cầu vay phục vụ nhu cầu đời sống của khách hàng.
Khách hàng có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với mức thu nhập, và có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm giá trị và công nghệ cao. 6 - Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến đổi lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. Nếu khách hàng là người buôn bán thì thu nhập của họ có thể cao bất thường nhưng không ổn định. Chỉ cần một sự biến động không tốt về giá cả những mặt hàng kinh doanh của họ có thể dẫn đến những con số thiệt hại rất lớn, làm giảm khả năng trả nợ của họ.
- Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Ngoài những đặc điểm cho vay phục vụ nhu cầu đời sống như trên thì cho phục vụ nhu cầu đời sống tại Ngân hàng Hợp tác xã có những đặc thù riêng, khác với cho vay phục vụ nhu cầu đời sống của các TCTD nói chung như: - Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống chỉ được thực hiện khi ngân hàng đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn hỗ trợ cho các QTDND thành viên. - Lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống thường ở mức ưu đãi, thấp hơn so với các tổ chức tín dụng khác. Với mục tiêu hỗ trợ tài chính cho các thành viên, ngoài những gói cho vay thông thường thì ngân hàng còn có những nguồn vốn hỗ trợ phát triển đời sống dân cư ở khu vực nông thôn với lãi suất cực kỳ ưu đãi cùng chính sách cho vay thuận tiện.
Phân loại cho vay phục vụ nhu cầu đời sống Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: Là khoản vay có thời gian dưới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân và hộ gia đình. Rủi ro của khoản vay này khá nhỏ, vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra. - Cho vay trung hạn: Là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60 tháng, được sử dụng để phục vụ cho các nhu cầu vốn có thời hạn dài hơn như mua ô tô, xây dựng nhà cửa, du học…. - Cho vay dài hạn: Là khoản vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên hay tối đa lên tới 20 năm, phục vụ cho các nhu cầu vay vốn lớn như: mua sắm đất đai, nhà cửa.
Căn cứ vào tính chất bảo đảm tiền vay - Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay phục vụ nhu cầu đời sống mà tài sản đảm bảo thường là bất động sản, động sản hình 7 thành từ nguồn vốn vay hoặc tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn ngân hàng. Tài sản đảm bảo làm tăng tính an toàn cho khoản vay vì ngân hàng có thể tạo áp lực buộc khách hàng phải trả nợ, nếu trong trường hợp khách hàng không thể trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mại tài sản để giảm bớt cho ngân hàng. - Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà người vay không buộc phải sử dụng tới tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Căn cứ vào mục đích vay - Cho vay cư trú: là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
- Cho vay không cư trú:đó là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành hoặc giải trí… Căn cứ vào hình thức - Cho vay gián tiếp (Indirect Consumer Loan): Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do các doanh nghiệp, công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng. (1) NGÂN HÀNG (4) CÔNG TY BÁN LẺ (5) (6) (3) (2) KHÁCH HÀNG VAY – NGƯỜI TIÊU DÙNG Hình 1. Sơ đồ cho vay phục vụ nhu cầu đời sống gián tiếp (1): Ngân hàng ký hợp đồng mua bán nợ với công ty bán lẻ thỏa thuận các điều kiện thực hiện. (2): Công ty bán lẻ ký hợp đồng bán trả chậm với người tiêu dùng.
Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. 8 (3): Công ty bán lẻ giao tài sản, hàng hóa cho người tiêu dùng. (4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán trả chậm cho ngân hàng (5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ (6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng Với hình thức vay này có những ưu điểm là đồng thời có lợi cho cả ngân hàng, người tiêu dùng cũng như nhà bán lẻ: + Ngân hàng dễ dàng mở rộng và tăng doanh số cho vay, tiết kiệm và giảm được các chi phí cho vay. Ngân hàng không cần phải mở rộng các chi nhánh, phòng giao dịch của mình nhiều mà vẫn có thể bán được các sản phẩm của mình tới khách hàng thông qua các công ty bán lẻ.
+ Ngân hàng quan hệ tốt với các doanh nghiệp bán lẻ thì hình thức cho vay phục vụ nhu cầu đời sống gián tiếp có mức độ rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ nhu cầu đời sống trực tiếp. Tuy nhiên, hình thức vay này cũng có những hạn chế là: + Khi cho vay ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên gây khó khăn trong việc kiểm tra cả trước, trong và sau vay. + Kỹ thuật và quy trình nghiệp vụ với hình thức cho vay này có tính phức tạp cao do phải qua thêm một bên trung gian giữa ngân hàng và khách hàng là các doanh nghiệp bán lẻ.