CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về Chatbot 1.1 Định nghĩa Chatbot được định nghĩa là “Một chương trình máy tính, mô phỏng ngôn ngữ của con người với sự hỗ trợ của hệ thống đối thoại dựa trên văn bản” (Zumstein & Hundertmark, 2017, trang 98). S (2015) Chatbot là một chương trình máy tính được thiết kế để mô phỏng một cuộc trò chuyện thông minh với một hoặc nhiều người dùng thông qua phương pháp thính giác hoặc văn bản. Chatbot có thể được lập trình để nói chuyện nhỏ hoặc cũng có thể đóng vai trò như một phương tiện tương tác với người dùng, cung cấp cho họ câu trả lời dựa trên các câu hỏi thông thường. Chatbot hiểu ngữ cảnh và đưa ra phản hồi dựa trên thông điệp được đưa cho nó.
Theo Wang & Petrina (2013) Chatbot được sử dụng cho một chương trình máy tính, mô phỏng ngôn ngữ của con người với sự hỗ trợ của hệ thống đối thoại dựa trên văn bản. Chatbot chứa một mô hình đầu vào và đầu ra văn bản, cho phép người dùng di động giao tiếp với phần mềm đằng sau họ, mang lại cho họ cảm giác đang trò chuyện với một người thực. Theo Araujo (2018) Chatbot là một giải pháp kỹ thuật số với tiềm năng phát triển lớn được thiết kế để nâng cao quy trình thương mại điện tử bằng cách mô phỏng một cuộc trò chuyện thông minh với khách hàng thông qua phương pháp thính giác hoặc bằng văn bản. Theo Richad and Emil R.
Kaburuan Chatbot là một chương trình máy tính bắt chước các cuộc trò chuyện của con người một cách tự nhiên định dạng bao gồm văn bản hoặc ngôn ngữ nói sử dụng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo như Natural Language Processing. Xử lý ngôn ngữ (NLP), xử lý hình ảnh và video và phân tích âm thanh. Chatbot cho phép người dùng giao tiếp với nó để tạo thành một giao tiếp thông minh 15 SVTH: Phan Thị Thu Trang Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thúy Đạt cùng với việc cung cấp kết quả hoặc nhiệm vụ đã hoàn thành như người dùng đã hướng dẫn.
Từ những định nghĩa trên, hiểu một cách tổng quát Chatbot là một chương trình máy tính được thiết kế để mô phỏng cuộc trò chuyện một hoặc nhiều người thường được trao đổi thông qua hình thức tin nhắn hoặc âm thanh. Do được thiết kế để mô phỏng cách trò chuyện với con người các hệ thống Chatbot thường phải điều chỉnh và thử nghiệm liên tục. Chatbot thường được sử dụng trong các hệ thống hội thoại cho các mục đích khác nhau bao gồm dịch vụ khách hàng, định tuyến yêu cầu hoặc để thu thập thông tin. Mặc dù một số ứng dụng Chatbot sử dụng các phương pháp phân loại từ (wordclassification), xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và trí tuệ nhân tạo (AI), một số ứng dụng khác chỉ cần quét các từ khóa chung và tạo phản hồi bằng các cụm từ phổ biến thu được từ thư viện hoặc cơ sở dữ liệu liên quan.
Ngày nay, hầu hết các Chatbot được truy cập trực tuyến thông qua các cửa sổ popup của trang web hoặc thông qua các trợ lý ảo như Google Assistant, Amazon Alexa hoặc các ứng dụng nhắn tin như Facebook Messenger hoặc Wechat.2 Lịch sử ra đời Dưới đây là tóm tắt lịch sử ngắn gọn về lịch sử hình thành của Chatbot. Năm 1950, phép thử Turing là một phương pháp để xác định xem một cỗ máy có thể chứng minh trí thông minh của nó giống với não người hay không. Các phép thử được thực hiện hiện để xác định xem một chương trình máy tính có thể phân biệt được máy tính với con người trong một cuộc trò chuyện chỉ có văn bản thuần túy hay không. Bằng cách gõ câu hỏi cho cả hai đối tượng thử nghiệm, người thẩm vấn sẽ cố gắng xác định đối tượng nào là máy tính và đối tượng nào là con người.
Máy tính sẽ vượt qua phép thử Turing nếu người thẩm vấn không thể nói sự khác biệt giữa chủ thể con người và máy tính. Năm 1966, Chatbot đầu tiên ra đời năm 1960, tên là Eliza, và là một chương trình máy tính của Joseph Weizenbaum (Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ). Chương trình được thiết kế theo cách bắt chước cuộc trò chuyện của con người. Chatbot Eliza hoạt động bằng cách chuyển các từ mà người dùng đã nhập vào máy tính và sau đó ghép nối chúng vào danh sách các câu trả lời có kịch bản.
Nó sử dụng một kịch bản mô phỏng một nhà tâm lý trị liệu. 16 SVTH: Phan Thị Thu Trang Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thúy Đạt Năm 1972, Parry được xây dựng bởi bác sĩ tâm thần người Mỹ Kenneth Colby vào năm 1972. Chương trình bắt chước một bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Nó là một chương trình ngôn ngữ tự nhiên tương tự như suy nghĩ của một cá nhân. Parry hoạt động thông qua một hệ thống phức tạp các giả định, phân bổ và “phản ứng cảm xúc” được kích hoạt bằng cách thay đổi trọng số được gán cho các đầu vào bằng lời nói. Trong cùng năm đó, Parry và Eliza đã “gặp” và “nói chuyện” với nhau tại Hội nghị Quốc tế về Truyền thông Máy tính ở Washington DC. Sau đó, Parry cũng đã vượt qua một phiên bản của Turing Test.
Năm 1981, được phát triển vào những năm 1980 và phát hành trực tuyến vào năm 1997, chatbot Jabberwacky được thiết kế để “mô phỏng trò chuyện của con người tự nhiên theo cách thú vị và hài hước”. Mục đích ban đầu của dự án Chatbot Jabberwacky là tạo ra một trí tuệ nhân tạo có khả năng vượt qua các phép thử Turing. Nó được thiết kế để bắt chước tương tác của con người và thực hiện các cuộc hội thoại với người dùng. Mục đích cuối cùng của chương trình là chuyển từ một hệ thống dựa trên văn bản sang toàn bộ hoạt động bằng giọng nói.
Năm 1992, được tạo ra bởi Creative Labs vào đầu những năm 1990, Dr SBAITSO là từ viết tắt của Sound Blaster Artificial Intelligent Text to Speech Operator. SBAITSO “trò chuyện” với người dùng như thể nó là một nhà tâm lý học. Năm 1995, ALICE được xây dựng trên cùng một kỹ thuật được sử dụng để tạo nên ELIZA. ALICE ban đầu được sáng tạo bởi Richard Wallace, ra đời vào ngày 23 tháng 11 năm 1995.
Chương trình được viết lại bằng ngôn ngữ Java vào năm 1998. ALICEBOT sử dụng một lược đồ XML có tên AIML (Artificial Intelligence Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu trí thông minh nhân tạo) để xác định các quy tắc trò chuyện heuristic. Tuy nhiên, nó lại không thể vượt qua Các phép thử Turing. Năm 2001, SmarterChild là một Chatbot có sẵn trên mạng AOL Instant Messenger và Windows Live Messenger (trước đây là MSN Messenger).
AOL Instant Messenger là một chương trình tin nhắn tức thời và hiện diện do AOL tạo ra, sử dụng giao thức nhắn tin tức thời OSCAR độc quyền và giao thức TOC để cho phép người dùng đăng ký giao tiếp trong thời gian thực, đóng vai trò giới thiệu cho việc truy cập dữ liệu nhanh và cuộc trò chuyện được cá nhân hóa thú vị. 17 SVTH: Phan Thị Thu Trang Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thúy Đạt Năm 2006, IBM Watson được tạo ra với mục tiêu vượt lên và chiến thắng các thí sinh tham dự cuộc thi Jeopardy! Với khả năng chạy hàng trăm thuật toán phân tích ngôn ngữ cùng một lúc, IBM Watson sở hữu một sự thông minh ngôn ngữ đáng ngạc nhiên. IBM thiết lập cho Watson có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu khổng lồ về thông tin.
Watson có thể nhanh chóng truy cập 200 triệu trang dữ liệu, làm cho nó trở thành một máy trả lời câu hỏi lý tưởng. Từ năm 2010 – 2016, thời kỳ bùng nổ các trợ lý ảo như Siri Siri (2010), Google Now (2012), Alexa (2015), Cortana (2015) và Google Assistant (2016). Với khả năng phân tích và xử lý ngôn ngữ tự nhiên, các trợ lý ảo này kết nối với các dịch vụ web để trả lời các câu hỏi và đáp ứng các yêu cầu của người dùng. Từ năm 2016 đến nay, Facebook - mạng xã hội lớn nhất thế giới giới thiệu Messenger Platform.
Một nền tảng thân thiện hơn và cho phép bất kỳ ai cũng có thể tạo cho mình một chatbot. Ngay sau đó, các ứng dụng chat khác như LINE, WhatsApp, Telegram hay Twitter cũng đưa ra các hô trợ hoặc các API cho phép người dùng tạo các Chatbot trên ứng dụng nhắn tin.2 Phân loại và các thành phần cơ bản của hệ thống Chatbot 1.1 Phân loại của hệ thống Chatbot Chatbot có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau dựa trên một số tiêu chí. Các phân loại có thể được thực hiện dựa trên các tiêu chí sau : Hình 1: Phân loại Chatbot 18 SVTH: Phan Thị Thu Trang Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thúy Đạt Bảng 1: Phân loại Chatbot Tiêu chí Phân loại Theo chế độ tương tác Dựa trên văn bản ( Text – Based) ( Interact Mode ) Dựa trên giọng nói ( Voice- Based ) Theo miền ( Domain ) Miền đóng/ miền cụ thể (Closed Domain): Phạm vi của Chatbot chỉ giải quyết một số vấn trong phạm vi nhất định.
Miền mở ( Open Domain ) : Loại này là mục tiêu của trí tuệ nhân tạo. Một Chatbot biết mọi thứ và có thể trả lời mọi vấn đề. Theo mục tiêu ( Goals) Các Chatbot hướng nhiệm vụ ( Task-Oriented) : Được thiết kế cho một nhiệm vụ cụ thể và được thiết lập để có thời gian ngắn các cuộc hội thoại, thường là trong một miền đóng. Các Chatbot không hướng nhiệm vụ ( Non Task- Oriented ): có thể mô phỏng cuộc trò chuyện với một người và thường thực hiện chat cho mục đích giải trí trong các miền mở.
Theo phương pháp thiết Dựa theo luật ( Rule- Based) : Loại Chatbot này khả kế ( Design Approach ) năng rất hạn chế 19 SVTH: Phan Thị Thu Trang Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Ths. Nguyễn Thị Thúy Đạt Dựa theo trí tuệ nhân tạo ( AI): Loại này có khả năng ‘ hiểu’ ngôn ngữ 1.2 Các thành phần cơ bản của hệ thống Chatbot Bước đầu tiên trong việc thiết kế bất kỳ hệ thống nào là chia nó thành các bộ phận cấu thành theo một tiêu chuẩn để có thể tuân theo cách tiếp cận phát triển mô đun. Trong hình dưới giới thiệu một kiến trúc Chatbot chung của Chatbot.