Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TO TUNG TRONG PHAP LUAT TO TUNG HINH SU’ 1.1 Khái niệm người tham gia tố tụnghình sự Nếu như LHS quy định về TNHS, tội phạm, cau thành tội phạm, hành vi nào bị coi là tội phạm và hậu quả pháp lý đối hành vi tội phạm gây ra. thì LTTHS quy định trình tự, cách thức của những chủ thê tô tụng tham gia đề giải quyết, chứng minh hành vi phạm tội cụ thé có vi phạm, đáp ứng các quy phạm LHS hay không và giải quyết các vấn đề phát sinh do hành vi phạm tội gây ra (nêu có). Đây là biểu hiện của Nhà nước, pháp luật tiến bộ, văn minh, dân chủ và nhân quyên. TTHS cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi nhưng lại vừa phải bảo đảm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai có liên quan đều phải được tôn trọng, bao đảm và bảo vệ [76, tr.
Như vậy, có thé thấy rằng, trong tô tụng luôn phản ánh, chứa đựng những mối quan hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các môi quan hệ. TTHS là “cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ quan tiễn hành tô tụng, người tiến hành tô tụng, người tham gia tô tụng, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội góp phan vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tô tụng hình sự” [86, tr.786] Với định nghĩa này, ngoài Cơ quan Nha nước đại điện trong tư pháp hình sự là các CQTHTT (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), những người trong các cơ quan nay (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Co quan điều tra, điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thâm phán, Hội thâm, Thư ký Tòa án); và những NTGTTT (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch) thì còn có đề cập đến các Cơ quan Nhà nước khác (ngoài các CQTHTT trên) và các tổ chức xã hội đã cho chúng ta thấy chủ thé tham gia TTHS là rất đa dạng, mang tinh phô quát từ các nguyên tắc của TTHS Việt Nam như: nguyên tắc “trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”, nguyên tắc “sự phối hợp của các cơ quan nhà nước với các cơ quan tiễn hành tố tung”. những chủ thể này góp phần không nhỏ trong việc giải quyết VAHS sự nói chung nhưng những chủ thé này có thực hiện cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động TTHS hay không thì cần phải xem lại: cơ quan Nhà nước khác là cơ quan nào? Tắt cả các cơ quan Nhà nước hay một số cơ quan Nhà nước? Theo quy định của pháp luật thì tham gia vào việc giải quyết VAHS thì chỉ có một số cơ quan được giao một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, kiểm ngư, lực lượng Cảnh sát biển và một số co quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.), tương tự đối với các tô chức xã hội có tham gia khi NTGTTT thuộc tô chức của mình TGTT với đại điện (Đoàn thanh niên đại diện cho NTGTT dưới 18 tuổi. Trong những trường hợp như thế này họ năm trong những NTGTT rồi.
Do vậy, chúng tôi cho rằng với định nghĩa này trong từ điển đã nêu về TTHS cần phải xem lại cho phù hợp với thực tiễn pháp luật, tiến tới thống nhất về thuật ngữ này. Chúng ta có thé hiểu TTHS như sau: TTHS bao gồm toàn bộ các hoạt động của các chủ thể TTHS hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phan đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyên con người [25, tr. Trong bat kỳ một hệ thong TTHS nao cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: truy tổ tội phạm và người phạm tội; bảo chữa của bị can, bị cáo và luật sư của họ; hoạt động xét xử của tòa án. Từ đó, ba chức năng: buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bat kỳ một loại TTHS nao.
Do đó, nói chức năng tố tụng là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS. Trong TTHS Việt Nam hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng, chăng hạn Tòa án đáng lẽ là cơ quan tài phan-trong tai giữ vai trò khách quan ở giữa bên buộc tội va bao chữa thi Tòa án Việt Nam cũng di chứng minh, cũng có chức năng khởi tố VAHS. tức là thực hiện cả chức năng buộc tội. PLTTHS Việt Nam chia các chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng thành: CQTHTT, NTHTT và NTGTT đã thể hiện việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thé tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thé đó và trong tổng thé điều đó không tạo ra được động cơ và động lực thúc đây hiệu quả của TTHS, nếu xét tiêu chí của hiệu quả là xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân.
Cần từ bỏ cách chia các chủ thé quan hệ tố tụng như PLTTHS như hiện nay mà phải đều là chủ thé các quan hệ tố tụng và trên cơ sở xác định rõ ràng mục đích và lợi ích của các chủ thé đó mà hình thành các bên trong quan hệ tố tụng. Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng đưa ra chứng cứ, lẫy lời khai người làm chứng. Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra, tăng cường giám sát hoạt động điều tra theo hướng gan công tổ với điều tra như các văn kiện của Đảng và Nhà nước[76, tr.12], tác giả đồng tình với nhận định này, nhưng tác giả cũng băn khoăn nếu phân chủ thé tố tụng dựa trên chức năng tố tụng nêu trên thi một sô NTGTT không biết được đưa vào bên tố tụng nao (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Khi nhìn vào lịch sử TTHS Việt Nam cho thấy kỹ thuật lập pháp luôn khu biệt CQTHTT, NTHTT và NTGTT thành hai chế định tương ứng thành hai chương trong PLTTHS, điều này dẫn đến nhận thức chỉ những người nao được quy định, liệt kê trong chương NIGTT mới là NTGTT hình sự, còn có được quy định, được nhắc đến trong chương khác, trong giai đoạn TTHS, ví dụ như người tố giác, người kiến nghị khởi tố hay người chứng kiến tại BLTTHS 2003 thì không phải NTGTT? Điều này cũng đã dẫn đến những hạn ché, gây khó khăn nhất định trong giải thích các quyền và nghĩa vụ trong các giai đoạn TTHS khác nhau của CQTHTT, NTHTT và cũng khó khăn với chính những NTGTT khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Do vậy, tác giả cho rằng để giữ nguyên “truyền thống” mà đảm bảo được chức năng của TTHS- thé hiện một cách gián tiếp thành các bên trong tố tụng dé làm được điều này chúng ta phải thay đổi, nhận thức lại về chủ thê là Tòa án, còn những NTGTT đặc biệt lưu ý đến những quyền và cơ chế bảo đảm quyền của NTGTT (đặc biệt là người bị tạm giữ, bị can bị cáo- quyền bào chữa của 10 họ, quyền thu thập chứng chứ, tranh tụng tại phiên tòa.), b6 sung diện người mới vào chương NTGTT và nâng cao trách nhiệm của những NTHTT ở các giai đoạn tố tụng khi khi thực hiện trách nhiệm giải thích quyền và nghĩa vụ cho những NTGTT. Những NTGTT hình sự được quy định tai chương IV BLTTHS nhưng quan điểm NTGTT gồm những cơ quan, tô chức hay cá nhân nào thì cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nguyễn Văn Tuân, hiện nay có ba quan điểm khác nhau [66, tr.129-130]: Quan điểm thứ nhất cho rằng, những NTGTT cần được hiểu theo nghĩa hep va bao gồm: người bị tạm giữ, bi can bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Những NTGTT là những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.
Khi tham gia tố tụng, họ có nhiều quyền và nghĩa vụ, sự tham gia của họ có tác dụng đối với sự tiến triển và kết quả của vụ án. Theo quan điểm nảy thì người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những người khác như người chứng kiến, nhà chuyên môn và bác sĩ pháp y một cách thụ động họ là những người được NTHTT “trưng dụng” để giúp làm sáng tỏ vụ án trong quá trình tiến hành các hoạt động tổ tụng. Vậy nên đưa họ vào danh sách những người được giao nhiệm vụ, được tham gia một số hoạt động tố tụng hoặc tách thành một chương riêng và đặt cho một cái tên khác cho phù hợp. Quan điểm thứ hai cho rằng, không nên bó hẹp phạm vi những NTGTT.
Theo quan điểm này, ngoài những NTGTT theo quan điểm thứ nhất còn phải kê đến người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Những người này thực chất cũng tham gia vào hoạt động TTHS và hoạt động của họ góp phần thực hiện nhiệm vụ TTHS. Sự tham gia TTHS của họ mang tính chất hạn chế, không phải dé bảo vệ lợi ích của mình mà nhăm thúc đây hoạt động tố tụng. Quan điểm thứ ba (hiểu theo nghĩa rộng) CQTHTT và NTHTT có góp phần hoạt động của mình vào hoạt động tố tụng hình sự không? Câu tra lời luôn là có và 11 con giữ vai tro quan trọng trong hoạt động TTHS - họ là người đại diện cho Nha nước điều tra truy tố và xét xử vụ án.
Vậy thì họ cũng chính là những người TGTT. Do vậy ngoài những NTGTT đã nói ở hai quan điểm nêu trên thì những người đại diện cơ quan nhà nước có thâm quyền tiễn hành TTHS, vi vậy, thực chất họ cũng là những NTGTT [61, tr. Theo quan điểm của tác giả, với quan điểm thứ nhất, khi tách người làm chứng, người phiên dịch, người giám định ra phạm vi NTGTT thì chưa hợp lý, khi NTHTT “trưng dụng” để góp làm sáng tỏ vụ án tức là họ đã là NTGTT rồi.