phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho nhân lực công nghệ thông tin của Tổng công ty Truyền thông. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng tạo động lực lao động cho nhân lực công nghệ thông tin của Tổng công ty Truyền thông. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhu cầu “Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” Theo tác giả Bùi Anh Tuấn – Phạm Thúy Hƣơng (Hành vi tổ chức, 2013, tr. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời cũng nhƣ cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu của con ngƣời rất phức tạp, song cơ bản nó đƣợc chia thành 3 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn biến đổi. Với mỗi ngƣời cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo từng quan điểm của từng cá nhân. Nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con ngƣời phải tìm cách để đáp ứng. Ngƣời lao động cũng nhƣ vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn.
Để có thể thỏa mãn đƣợc những mong muốn này, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao và ngƣợc lại. Động lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực – Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân của tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm thì “ Động lực đƣợc hiểu là sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt đƣợc các mục tiêu, kết quả nào đó. Theo cách hiểu này, động lực có đƣợc không xuất phát từ bất kỳ một sự 9 cƣỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ nội tâm của ngƣời lao động. Theo giáo trình Hành vi tổ chức – Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân do tác giả Bùi Anh Tuấn (chủ biên) thì “ Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [21, tr.
Nhƣ vậy, bản chất của động lực lao động là những gì kích thích con ngƣời hành động để đạt đƣợc mục tiêu nào đó. Mục tiêu của con ngƣời đặt ra một cách có ý thức đƣợc phản ảnh bởi động cơ của ngƣời lao động và quyết định hành động của họ. Nhƣ vậy động cơ lao động là nguyên nhân, lý do để cá nhân ngƣời lao động tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hƣng phấn thôi thúc họ tham gia làm việc. Động cơ vừa có thể tạo ra động lực mạnh mẽ cho ngƣời lao động nhƣng nó cũng đồng thời có thể thui chột đi mong muốn đƣợc làm việc, đƣợc cống hiến của họ.
Ngƣời quản lý phải hiểu và phân tích động cơ, động lực của ngƣời lao động để đƣa ra các chính sách nhân sự hợp lý để ngƣời lao động hoàn thành công việc đồng thời giúp cho tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đặt ra 1. Động lực lao động Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau nhƣng đều làm rõ đƣợc bản chất của động lực lao động. Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”.13] 10 Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động”.9] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của ngƣời lao động.
Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động.
Tạo động lực lao động Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho ngƣời lao động trong tổ chức nói riêng đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo tác giả Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của ngƣời lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt đƣợc các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức đƣợc thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với ngƣời lao động nhƣ thế nào”.145] 11 Theo tác giả Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong làm việc”. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp.
Do đặc thù tính chất công việc của lao động gián tiếp và công nhân sản xuất khác nhau, cũng nhƣ trình độ học vấn, nhu cầu và mức độ hài lòng về công việc của hai khối lao động này là khác nhau. Do đó, tạo động lực cho lao động gián tiếp và công nhân sản xuất cũng khác nhau. Với lao động gián tiếp thì nhu cầu về xã hội, nhu cầu đƣợc tôn trọng và nhu cầu đƣợc thể hiện của họ đƣợc đặt lên trên nhu cầu về sinh lý, cho nên tao động lực lao động cho khối lao động gián tiếp thì doanh nghiệp cần chú trọng vào các biện pháp tạo động lực bằng các khuyến khích tinh thần nhƣ đào tạo và phát triển, cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, đánh giá thực hiện công việc… để nâng cao mức độ hài lòng cho khối lao động gián tiếp. Và ngƣợc lại với công nhân sản xuất (lao động trực tiếp), do trình độ học vấn và nhận thức của họ không cao bằng khối lao động gián tiếp, nên nhu cầu của họ vẫn tập trung vào nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn thay vì các nhu cầu xã hội và nhu cầu đƣợc thể hiện.
Chính vì thế, đối với khối công nhân sản xuất thì doanh nghiệp sẽ tập trung vào các biện pháp tạo động lực bằng các khuyến khích vật chất nhƣ tiền lƣơng, thƣởng và chế độ phúc lợi; hoặc tạo động lực bằng cách nâng cao điều kiện làm việc thì sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác tạo động lƣc lao động cho doanh nghiệp hơn. Một số học thuyết liên quan đến động lực lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Lý thuyết về thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow: Lý thuyết về động lực đƣợc biết đến nhiều nhất là hệ thống phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow. Maslow đƣa ra giả thuyết rằng trong mỗi con ngƣời, tồn tại một hệ thống phân cấp gồm năm nhu cầu: - Sinh lý.
Bao gồm đói, khát, trú ẩn, tình dục và các nhu cầu cơ thể khác. An ninh và bảo vệ khỏi tổn hại về thể chất và tinh thần. Tình cảm, sự gắn bó, sự chấp nhận và tình bạn. Các yếu tố bên trong nhƣ tự trọng, tự chủ, thành tích và các yếu tố bên ngoài nhƣ địa vị, sự công nhận và sự chú ý.
- Tự thực hiện. Để trở thành những gì chúng ta có khả năng trở thành bao gồm thăng tiến, đạt đƣợc tiềm năng của tổ chức và tự hoàn thành. Mặc dù không có nhu cầu nào đƣợc thỏa mãn hoàn toàn, một nhu cầu thực sự thỏa mãn không còn là động lực nữa. Do đó, khi mỗi ngƣời trở nên hài lòng đáng kể, ngƣời tiếp theo trở nên chiếm ƣu thế.
Vì vậy, nếu bạn muốn thúc đẩy ai đó, theo Maslow, bạn cần hiểu mức độ phân cấp mà ngƣời đó hiện đang ở và tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu ở mức hoặc trên mức đó, tiến lên các bƣớc. Maslow tách năm nhu cầu thành các đơn hàng cao hơn và thấp hơn. Nhu cầu sinh lý và an toàn, theo lý thuyết cho biết con ngƣời bắt đầu từ nhu cầu cấp thấp hơn; xã hội, lòng tự trọng và tự thực hiện là nhu cầu cấp cao hơn. Nhu cầu cấp cao hơn đƣợc thỏa mãn trong nội bộ (bên trong con ngƣời), trong khi nhu cầu cấp thấp hơn chủ yếu đƣợc thỏa mãn ở bên ngoài (bởi những thứ nhƣ lƣơng, hợp đồng liên minh và nhiệm kỳ).
Thẩm phán, 2013) Hình 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow Ví dụ đối với một sinh viên vừa mới ra trƣờng, đi xin việc thì vấn đề cần việc làm và có thu nhập cơ bản là nhu cầu quan trọng. Còn đối với một nhân viên đã có thâm niên và tích lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm thì nhu cầu của ngƣời đó phải có là vị trí và chức vụ trong doanh nghiệp hoặc đƣợc trả lƣơng cao xứng đáng với năng lực của họ. Việc đề bạt chức vụ phù hợp với nhân viên này sẽ làm tăng động lực làm việc và khuyến khích họ làm việc hăng say có hiệu quả hơn. Học thuyết công bằng của J.