phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục hình vẽ, bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày với kết cấu 3 chương như sau: Chƣơng 1 – Phân tích vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại trong việc đáp ứng mục tiêu kinh tế đối ngoại của một địa phương. Chƣơng 2 - Thực trạng tăng cường tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam– Chi nhánh Hùng Vương đáp ứng mục tiêu kinh tế đối ngoại của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2013. Chƣơng 3 - Phương hướng và giải pháp tăng cường tín dụng của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam– Chi nhánh Hùng Vương đáp ứng mục tiêu kinh tế đối ngoại của tỉnh Phú Thọ. 13 CHƢƠNG 1 PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG VIỆC ĐÁP ỨNG MỤC TIÊU KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1.1 Tổng quan kinh tế đối ngoại của một địa phƣơng 1.1 Khái niệm kinh tế đối ngoại của một địa phương Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một địa phương nhất địnhvới các quốc gia khác hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.
Kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế là hai khái niệm có liên quan với nhau nhưng không đồng nhất. Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủ thể của nó là một quốc gia với bên ngoài, là quan hệ kinh tế có chủ thể và có đối tác. nó chỉ là một bộ phận của kinh tế quốc tế. Kinh tế đối ngoại của một địa phương là một bộ phận của kinh tế đối ngoại quốc gia, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một địa phương nhất định với các quốc gia khác hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác.
Các địa phương khác nhau sẽ có thế mạnh phát triển các lĩnh vực kinh tế đối ngoại khác nhau nhưng đều nằm trong tổng thể kinh tế đối ngoại của quốc gia.2 Vai trò và tác dụng của kinh tế đối ngoại đối với một địa phương Có thể khái quát vai trò to lớn của kinh tế đối ngoại đối với một địa phươngqua các mặt sau đây: 14 Kinh tế đối ngoại góp phần nối liền sản xuất và trao đổi của địa phương đó với sản xuất và trao đổi quốc tế; nối liền thị trường trong nước và thị trường thế giới và khu vực. Hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và vốn viện trợ chính thức từ các chính phủ và tổ chức tiền tệ quốc tế (ODA); thu hút khoa học, kỹ thuật, công nghệ khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại vào địa phương. Kinh tế đối ngoại giúp các cơ quan nhà nước điều hành tỷ giá thông qua các hoạt động thu ngoại tệ. Góp phần tích luỹ vốn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá địa phương.
Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.3 Các hình thức kinh tế đối ngoại của địa phương 1.1 Ngoại thương Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ (hàng hoá hữu hình hoặc vô hình) giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu. Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; "điều tiết thừa thiếu" trong mỗi nước; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong nước; tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nhất là trong các ngành xuất khẩu. 15 Nội dung của ngoại thương bao gồm: a. Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá là nội dung quan trọng nhất của hoạt động ngoại thương, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng.
Các địa phương phải xác định được đâu là thế mạnh xuất khẩu của mình ( như hàng thủ công, nông sản, thủy hải sản, dệt may, giày dép, phần mềm…) từ đó đặt ra các mục tiêu xuất khẩu cụ thể cho từng mặt hàng đi kèm với các biện pháp thực hiện các mục tiêu đó như: giá trị xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu. Nhận gia công Nhận gia công cho nước ngoài là một hình thức rất tốt, giúp tận dụng nguồn dự trữ lao động, tạo nhiều việc làm và tận dụng công suất máy móc hiện có. Trong hoạt động gia công có thể bao gồm cả nghiệp vụ nhập khẩu (bên nhận gia công phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu từ bên thuê gia công) và nghiệp vụ xuất khẩu (bên nhận gia công xuất khẩu hàng hóa thành phẩm cho bên thuê gia công). Rất nhiều nước trên thế giới chăm lo đẩy mạnh hình thức này, kể cả những nước và lãnh thổ "công nghiệp mới" như Hàn Quốc, Đài Loan.
Đối với nhiều địa phương , trong những năm trước mắt, tăng cường việc nhận gia công là một phương hướng đúng đắn, có ý nghĩa chiến lược để mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, ổn định tình hình kinh tế - xã hội trong nước. Các ngành có hàm lượng lao động cao thích hợp với các khu vực ngoại thành, nông thôn bởi vì chúng đòi hỏi ít vốn đầu tư, việc đào tạo công nhân cũng nhanh hơn việc đầu tư công nhân cho các ngành có hàm lượng khoa học cao. Cần thấy rằng, muốn mở rộng việc nhận gia công cho nước ngoài phải 16 chọn những gì thế giới cần chứ không thể chọn những gì mà chủ quan ta mong muốn. Gia công cho nước ngoài được các địa phương quy hoạch trong mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp và chỉ tiêu đặt ra: là giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng, điạ điểm gia công.
Để đa ̣t kế hoa ̣ch xuất khẩu, các tỉnh, thành phố cần tập trung tháo gỡ khó khăn, hỗ trơ ̣ doanh nghiê ̣p sản xuấ t ; tích cực tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại và khai thác cơ hội mở rộng thị trường xuấ t khẩ u. Về lâu dàisẽ đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đáp ứng nguyên liệu đầu vào , từ đó giảm nhập khẩu nguyên liê ̣u. Hiện nay, các địa phương thường đặt ra các mục tiêu trong thời gian 05 năm và định hướng phát triển xuất khẩu cho các mặt hàng thế mạnh.2 Đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
Đầu tư quốc tế có tính chất hai mặt đối với các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới. Mặt khác, đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng tính lệ thuộc vào bên ngoài. Những điều bất lợi trên đây cần được tính toán và cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng, thẩm định ký kết và triển khai dự án được ký kết trong thực tế.
Các hình thức đầu tƣ quốc tế: a. Đầu tư trực tiếp Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng 17 quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu là của doanh nghiệp và tư nhân. Đầu tư gián tiếp : Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dưới hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần), hoặc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu cho vay ưu đãi).
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Xây dựng những xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài Xí nghiệp chung hay hỗn hợp là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tài chính - tín dụng. Hiện nay, những xí nghiệp loại này đang tồn tại một cách phổ biến ở nhiều nước. Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn đóng góp của các thành viên.
Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu và trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho nhà nước tiết kiệm ngoại tệ. Các địa phương thường đặt ra mục tiêu thu hút các nhà đầu tư hợp tác sản xuất dưới hình thức này như: Số lượng dự án hợp tác sản xuất, tổng vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ vốn tham gia của nhà đầu tư nước ngoài/ tổng vốn đầu tư dự án. Trong các hình thức trên thì đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ( FDI) phổ biến hơn và đóng vai trò rất quan trọng với phát triển kinh tế địa phƣơng. 18 Mặc dù FDI vẫn chịu chi phối của Chính Phủ nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên.