CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng “Thuế GTGT là thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá và dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”[14] Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, Cộng hoà Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT vào năm 1954. Thuế GTGT theo tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế GTGT.
Đến nay thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới (khoảng 130 nước), trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1 (1990) áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (ngành đường, dệt, xi măng…) ban hành thành luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 9 ngày 10 tháng 5 năm 1997 để chính thức áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Theo quy định của Luật thuế GTGT thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Ðây là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng.
Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ. GTGT là phần giá trị mới được tạo ra trong SXKD. Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng.
4 Về hình thức, thuế GTGT do các nhà SXKD nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán. Về bản chất, người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng hoặc người sản xuất hoặc cả người sản xuất và người tiêu dùng phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu của hàng hóa đó trên thị trường. GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ (HHDV) bán ra với tổng trị giá HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: GTGT = Tổng giá trị HHDV bán ra - Tổng giá trị HHDV mua vào tương ứng Số thuế GTGT=GTGT của HHDV chịu thuế x Thuế suất thuế GTGT của HHDV đó 1. Đặc điểm thuế GTGT - Thuế GTGT được gọi là thuế GTGT vì thuế chỉ đánh trên phần tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình SXKD và tổng số thuế thu được qua mỗi khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán của người tiêu dùng cuối cùng.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tức là người nộp thuế cho NSNN là người SXKD hàng hoá, dịch vụ nhưng bị thuế điều tiết là người tiêu dùng. Đáng lẽ người tiêu dùng phải nộp thuế cho NSNN nhưng vì thuế GTGT đã nằm trong giá bán hàng hoá dịch vụ nên người SXKD hàng hoá dịch vụ sẽ là người nộp thay, nộp hộ vào NSNN cho người tiêu dùng. - Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một yếu tố được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp HHDV. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình SXKD, tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng.
- Thuế GTGT có ít thuế suất nên về cơ bản không can thiệp sâu vào mục tiêu khuyến khích hoặc hạn chế SXKD hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng theo ngành 5 nghề cụ thể, không gây phức tạp trong việc xem xét mặt hàng, ngành nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều. - Thuế tính trên hàng hoá, dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét, phân tích về tính hợp lý, hợp lệ của các khoản chi phí, làm cho việc quản lý thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu. - Thuế GTGT có tính chất lãnh thổ rõ rệt bởi vì đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Hay nói cách khác thuế GTGT đánh vào các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong nước, kể cả hàng hoá nhập khẩu.
Còn hàng hoá, dịch vụ cho mục đích xuất khẩu thường không thuộc diện đánh thuế GTGT. - Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập. Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ nên người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó mà không phân biệt thu nhập cao hay thấp, đều phải trả thấp như nhau. Vai trò thuế GTGT - Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không đánh trùng lặp nên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển SXKD nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
- Thuế GTGT là nguồn thu lớn và quan trọng của NSNN. Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm tỷ trọng ổn định khoảng 20-25% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí. - Khuyến khích xuất khẩu HHDV thông qua áp dụng thuế suất 0%, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá HHDV xuất khẩu trên thị trường quốc tế. - Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng từ và thanh toán qua ngân hàng.
Nếu hệ thống chứng từ tốt thì Thuế GTGT không chỉ giúp tạo nguồn thu cho NSNN mà còn giúp kiểm soát các hoạt động của 6 doanh nghiệp. Bên cạnh đó thu, kiểm tra thuế GTGT còn làm cơ sở cho việc đối chiếu số thu các loại thuế khác. Các yếu tố cơ bản cấu thành nên Luật thuế GTGT 1.1 Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT do luật 13/2008/QH12 quy định.2 Đối tượng không chịu thuế 1) Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
2) Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền. 3) Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. 4) Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt mà thành phần chính là Na-tri-clo-rua (NaCl). 5) Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê.
6) Chuyển quyền sử dụng đất. 7) Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản; tái 7 bảo hiểm. 8) Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán sau đây: a) Dịch vụ cấp tín dụng bao gồm: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác; bảo lãnh; cho thuê tài chính; phát hành thẻ tín dụng; bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế; hình thức cấp tín dụng khác theo quy định của pháp luật; b) Dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng; c) Kinh doanh chứng khoán bao gồm: môi giới chứng khoán; tự doanh chứng khoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán; lưu ký chứng khoán; quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán; dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán; hoạt động kinh doanh chứng khoán khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán; d) Chuyển nhượng vốn bao gồm: chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn đã đầu tư, kể cả trường hợp bán doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác để sản xuất, kinh doanh, chuyển nhượng chứng khoán; hình thức chuyển nhượng vốn khác theo quy định của pháp luật; đ) Bán nợ; e) Kinh doanh ngoại tệ; g) Dịch vụ tài chính phái sinh bao gồm: hoán đổi lãi suất; hợp đồng kỳ hạn; hợp đồng tương lai; quyền chọn mua, bán ngoại tệ; dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định của pháp luật; h) Bán tài sản bảo đảm của khoản nợ của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam. 9) Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi; dịch vụ chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật.
8 10) Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theo chương trình của Chính phủ. 11) Dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ.