phần Mở đầu, Kết luận, và các danh mục, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Một số giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Thăng Long Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNGTẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng (hay hoạt động cho vay) là hoạt động chính tạo ta phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động cho vay có thể phân chia làm nhiều loại khác nhau theo tính chất và đối tƣợng của hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động cho vay phải đảm bảo một số điều kiện cơ bản. Ba điều kiện cơ bản của một hợp đồng cho vay là: - Thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả hay thời gian đáo hạn của hợp đồng. - Vốn vay phải đảm bảo sử dụng đúng mục đích.
- Về nguyên tắc, vốn vay phải đƣợc đảm bảo bằng tài sản tƣơng đƣơng. Hoạt động tín dụng có thể đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí, trong đó có một số tiêu chí chủ yếu sau: * Phân loại tín dụng dựa theo tiêu chí thời gian: - Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống - Cho vay trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm - Cho vay dài hạn: Trên 5 năm * Phân loại tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo: - Không cần tài sản đảm bảo - Có tài sản đảm bảo * Phân loại tín dụng dựa theo mục đích: - Cho vay bất động sản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Cho vay công nghiệp và thƣơng mại. - Cho vay nông nghiệp.
- Cho vay các định chế tài chính. - Cho vay cá nhân. * Phân loại tín dụng dựa vào Phƣơng pháp hoàn trả: - Cho vay trực tiếp. - Cho vay gián tiếp: theo các loại sau: + Chiết khấu thƣơng mại + Mua phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc trả góp + Nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình + Nghiệp vụ bao thanh toán 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có đƣợc tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng; có nghĩa là khả năng khách hàng không trả đƣợc nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không đƣợc hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lƣợng và thời hạn. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng, có qui mô lớn nhất của ngân hàng thƣơng mại – hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của ngƣời vay sao cho độ an toàn là cao nhất.
Và nhìn chung, ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng.
Do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi, là khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đƣờng trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn đƣợc xác định trƣớc trong chiến lƣợc hoạt động chung của ngân hàng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân khách quan: Đây là những nguyên nhân gây nên rủi ro cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho vay không xuất phát từ cán bộ cho vay hay ý thức trả nợ của khách hàng mà do môi trƣờng bên ngoài tác động vào.
Nguyên nhân này xuất hiện đột ngột, khó đoán, khó kiểm soát, nó thƣờng gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng và ngân hàng cho vay. Bao gồm các nguyên nhân cụ thể sau. - Do sự thay đổi chính sách của chính phủ: Nƣớc ta đang thực hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế thị trƣờng. Do đó phải tuân thủ và chấp nhận sự biến động theo quy luật của nền kinh tế thị trƣờng.
Mỗi khi nền kinh tế biến động lên, xuống thì lập tức chính phủ phải đƣa ra các chính sách kinh tế mới phù hợp với điều kiện hiện hành nhằm hạn chế ảnh hƣởng xấu tới nền kinh tế đất nƣớc. Các chính sách của chính phủ thƣờng xuyên quan tâm và có sự thay đổi kịp thời là: Chính sách tài chính: Chính sách này liên quan đến cơ chế thu chi ngân sách chính phủ. Chính sách tiền tệ: Chính phủ sử dụng các công cụ nhƣ: lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trƣờng mở… Để điều chỉnh mức cung ứng tiền tệ khi có biến động xẩy ra. Chính sách đầu tƣ phát triển: Đây là những chính sách mà khi chính phủ điều chỉnh sẽ gây ảnh hƣởng trực tiếp cho các ngân hàng thƣơng mại, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thƣờng là những ảnh hƣởng không tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại.
- Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý: Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trƣờng kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại sẽ có nhiều thuận lợi. Ngƣợc lại nếu môi trƣờng pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội không ổn định dẫn đến kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro. - Môi trường tự nhiên: Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hƣởng hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thƣờng xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Vì vậy khi có thiên tai địch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phƣơng án, dự án kinh doanh không có nguồn thu… Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình.
- Môi trường kinh tế xã hội: Các yếu tố nhƣ vấn đề chu kỳ kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá. Môi trƣờng kinh tế có ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng kinh doanh của khách hàng, vì vậy ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Thực tế chứng minh trong thời kỳ suy thoái, khủng hoảng tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thƣờng tăng cao. Nguyên nhân chủ quan - Nguyên nhân từ phía khách hàng: Do khách hàng không đủ năng lực pháp lý: nguời vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng.
Nhân cách, trình độ quản lý của khách hàng: đây cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng, khách hàng có khả năng trả nợ nhƣng cố tình không có thiện chí trả nợ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Sử dụng vốn vay sai mục đích kém hiệu quả. Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ đƣợc. Quản lý vốn vay không hợp lý dẫn đến thiếu khả năng thanh khoản.
Khách hàng cố tình lừa đảo, chiếm đoạt vốn ngân hàng. - Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Do ngân hàng tăng trƣởng tín dụng mà không có sự kiểm soát chất lƣợng tín dụng: bỏ bớt các điều kiện tín dụng, thực hiện cho vay không đúng quy định, thiếu kiểm soát quản lý tín dụng trƣớc, trong và sau cho vay. Phƣơng tiện cho vay chƣa đƣợc cơ cấu hợp lý: số lƣợng vốn vay thừa hoặc thiếu so với nhu cầu dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, kỳ hạn trả nợ không phù hợp với dòng tiền thu đƣợc của khách hàng hoặc dòng đời dự án, thời hạn rút vốn, tài sản đảm bảo. Do ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và nguồn vốn sử dụng: ngân hàng dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán từ đó sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn nhiều hoặc ngân hàng dự trữ vốn quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn.
Ngân hàng thiếu thông tin về khách hàng nên không dự đoán đƣợc rủi ro đối với một khoản vay. Ngân hàng đánh giá không đúng về đảm bảo (về tài sản thế chấp, cầm cố hoặc về ngƣời bảo lãnh). Do cán bộ tín dụng, cán bộ lãnh đạo yếu hoặc thiếu chuyên môn, chủ quan về khách hàng cũ, không chấp hành đúng quy trình cho vay hoặc do vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng Đối với rủi ro tín dụng, trƣớc hết, nên coi đó là một hiện tƣợng có thể xảy ra ngoài mong muốn của ngân hàng khi thực hiện cho vay đối với khách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Với quan niệm nhƣ vậy, mỗi khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng, ngân hàng cần lƣờng trƣớc những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng chính là xuất phát điểm hình thành nên ý tƣởng quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Mặc dù rủi ro tín dụng là một hiện tƣợng tiềm ẩn và không phải bao giờ cũng xảy ra khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, nhƣng trong nhiều trƣờng hợp, do tính lặp lại của rủi ro nên ngƣời ta có thể nhận biết đƣợc tính quy luật của nó.