phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại Chƣơng 2. Thực trạng quản lý cho vay tiêu dùng của Agribank chi nhánh Nghệ An. Phương hướng và giải pháp tăng cường quản lý cho vay tiêu dùng tại Agribank chi nhánh Nghệ An.
5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại và cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại: Quan niệm và các nghiệp vụ cơ bản 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) Theo Luật Ngân hàng nhà nước: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau: 6 Thứ nhất, Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế Thứ hai, Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng 1. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại. So với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hóa của ngân hàng thương mại là một hàng hóa đặc biệt, đó là tiền vốn, nó chịu tác động bởi quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường tiền tệ. Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hóa các hình thức cho vay nhằm phân tán giảm thiểu rủi ro. Với vị thế kinh doanh Ngân hàng Thương mại thực hiện các dịch vụ trung gian hưởng hoa hồng.
Ngày nay, thệ thống Ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội. Sự đa dang hóa các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho ngân hàng trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế. Nghiệp vụ nguồn vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này ngân hàng thương mại sử dụng các công cụ và biện pháp cần thiết mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Ngân hàng nhân các khoản tiền gửi của khách hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân, của tổ chức và các doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho khách khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu đến rút tiền ở ngân hàng. Có thể nói rằng nghiệp vụ huy động nguồn vốn là nghiệp vụ có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội.
Nghiệp vụ sử dụng vốn Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại sẽ được sử dụng để cho vay. Nghiệp vụ 7 cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của Ngân hàng thương mại, cùng với nghiệp vụ đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại. Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiền hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, sử dụng phần lớn nguồn vốn huy động và tạo ra thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thương mại. Nghiệp vụ trung gian Cùng với nghiệp vụ nguồn vốn và sử dụng vốn thì nghiệp vụ trung gian là nghiệp vụ được các ngân hàng thương mại quan tâm phát triển.
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ trung gian này thanh toán chi hộ cho khách hàng là nghiệp vụ được sử dụng thương xuyên nhất, ngân hàng theo sự ủy nhiệm của khách hàng sẽ chuyển tiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của khách hàng. Ngân hàng thương mại nhận ủy thác, là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự ủy thác của khách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công chúng, vàng bạc, giấy tờ có giá,… theo ủy nhiệm của khách hàng để hưởng hoa hồng. Ngoài ra các ngân hàng thương mại còn tham gia mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quý, thực hiện mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng, tư vấn tài chính, giúp các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Nhắc đến NHTM thì không thể không nhắc đến hoạt động cho vay. Đặc biệt, đối với các NHTM Việt Nam thì lợi nhuận từ hoạt động cho vay đem lại chiếm một phần rất lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Do vậy, cho vay được xem là hoạt động chủ đạo của các NHTM Việt Nam, nó thể hiện quan hệ vay mượn dưới hình 8 thức tiền tệ giữa một bên là ngân hàng – tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.
Trong đó, ngân hàng đóng vai trò là người cho vay, còn các tổ chức, cá nhân là người đi vay. Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hoạt động cho vay có thể được hiểu “là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá), giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay(cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó: Bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán” Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia các loại cho vay, tuy nhiên căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì cho vay gồm có: cho vay sản xuất, kinh doanh, đầu tư và cho vay tiêu dùng. Nếu cho vay sản xuất kinh doanh là hoạt động ngân hàng cho các tổ chức, doanh nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự án đầu tư, các phương án sản xuất thì cho vay tiêu dùng lại là hình thức tài trợ cho nhu cầu chi tiêu.
Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người vay trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ…Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng. Như vậy, bằng việc cho vay tiêu dùng các ngân hàng sẽ giúp các cá nhân, hộ gia đình thoả mãn nhu cầu trước khi họ có khả năng chi trả. Cho vay tiêu dùng là một trong những hình thức cho vay của NHTM hiện nay. Có thể hiểu khái niệm cho vay tiêu dùng như sau: “Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.
Vay tiêu dùng là một nguồn tài chính quan trọng giúp cá nhân và hộ 9 gia đình trang trải nhu cầu về nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình hay những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch,… mà không phục vụ trực tiếp cho mục đích sản xuất kinh doanh” 1. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ. Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng có với các hình thức cho vay ngân hàng nói chung: Lãi suất cho vay kém linh hoạt: CVTD vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay tiêu dùng ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên.