CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Các khái niệm về kiểm soát nội bộ a. Kiểm soát nội bộ theo COSO Theo ỦY ban hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (COSO- Committee of Sponsoring Organization) năm 1992 đã định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động - Sự tin cậy của báo cáo tài chính - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”.
Định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC): hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý. Theo Viện kiểm toán quốc tế Theo định nghĩa của Viện kiểm toán quốc tế:”Hệ thống kiểm soát nội bộ” là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức mục tiêu của Ngân hàng, được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của Ngân hàng và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400:” Hệ thống kiểm soát nội bộ là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kiểm toán và thủ tục kiểm soát” Từ các định nghĩa khác nhau về kiểm soát nội bộ theo các tổ chức như trên, ta có thể hiểu về kiểm soát nội bộ theo hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 Tại đơn vị có quy mô lớn thì kiểm soát nội bộ càng có ý nghĩa quan trọng, vì khi quy mô càng mở rộng thì trách nhiệm và quyền hạn phải phân chia cho nhiều cấp, nhiều bộ phận, nên mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng và nhân viên sẽ càng trở nên phức tạp, quá trình truyền đạt và thu thập thông tin phản hồi càng trở nên khó khăn, tài sản lại càng phân tán ở nhiều địa điểm và trong nhiều địa điểm khác nhau. Do đó đòi hỏi phải có sự kiểm soát nội bộ hữu hiệu nhằm giảm bớt các rủi ro cơ bản có thể xảy ra. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ * Mục tiêu hiệu quả và hiệu năng hoạt động là sử dụng nguồn lực hiện có một cách hiệu quả nhất: Hạn chế rủi ro ở mức độ chấp nhận được Đảm bảo sự phối hợp, cùng làm việc của toàn bộ nhân viên trong Ngân hàng với một văn hóa kiểm soát lành mạnh nhằm đạt được mục tiêu của Ngân hàng với hiệu năng và sự nhất quán. Đảm bảo kết hợp hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của khách hàng, của nhân viên lên trên lợi ích của ngân hàng để duy trì sự trung thành, gắn bó nhằm đảm bảo cho ngân hàng phát triển ổn định, vững chắc.
Luan van 7 * Mục tiêu thông tin là độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông tin tài chính và quản lý. Các báo cáo được lập đúng hạn, đáng tin cậy là căn cứ để Hội đồng quản trị, Ban điều hành ra những quyết định đúng đắn. Các thông tin cung cấp cho Ban Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông và các cơ quan giám sát đảm bảo đầy đủ, chất lượng. * Mục tiêu tuân thủ là đảm bảo mọi hoạt động của ngân hàng đều tuân thủ: các quy định của pháp luật, NHNN, các yêu cầu về giám sát, các chính sách, quy trình nghiệp vụ nội bộ do chính ngân hàng thiết lập.
Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ - Môi trường kiểm soát: tạo ra phong thái của toàn doanh nghiệp và có ảnh hưởng tới ý thức về kiểm soát của các nhân viên; là nền móng của hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát bao gồm phương châm và phong cách kinh doanh của Ban lãnh đạo, hiệu quả của cơ cấu tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tin cậy các ước tính của Ban lãnh đạo. - Đánh giá rủi ro: là xác định và phân tích các rủi ro đối với việc hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc xác định xem các rủi ro đó cần được quản lý như thế nào. - Các hoạt động kiểm soát: là các chính sách và thủ tục góp phần đảm bảo các định hướng của Ban lãnh đạo được thực hiện.
- Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin: hỗ trợ việc nắm bắt chính xác, kịp thời các thông tin tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện các nhiệm vụ của mình. - Đánh giá hoạt động kiểm soát: là quá trình đánh giá chất lượng kiểm soát nội bộ một cách thường xuyên, riêng lẻ hay kết hợp cả hai. Nguyên tắc hoạt động của hệ thống KSNB trong các Ngân hàng thương mại Để hệ thống KSNB hoạt động có hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc Luan van 8 hoạt động sau: Thứ nhất: mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến hậu quả và mục tiêu hoạt động của Ngân hàng đều phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Thứ hai: hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một phần không tách rời các hoạt động của Ngân hàng.
Cơ chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ, tại tất cả các đơn vị, bộ phận của Ngân hàng dưới nhiều hình thức như: Cơ chế phân cấp ủy quyền rõ ràng, minh bạch, đảm bảo tách bạch nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận trong Ngân hàng. Cơ chế kiểm tra chéo giữa các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia một quy trình nghiệp vụ. Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch. Quy trình và cơ chế thẩm định kiểm tra, chấp nhận và xét duyệt cho phép thực hiện các giao dịch, đảm bảo một quy trình nghiệp vụ có ít nhất hai cán bộ tham gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một quy trình nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoài trừ những giao dịch trong hạn mức được Ngân hàng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật.
Cơ chế phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện một cách hợp lý cụ thể, rõ ràng, tránh các xung đột lợi ích, đảm bảo một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau, đảm bảo mọi cán bộ mọi cán bộ trong Ngân hàng không có điều kiện để thao túng hoạt động, bưng bít thông tin phục vụ các mục đích cá nhân hoặc che dấu các hành vi vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội bộ. Luan van 9 Thứ ba: đảm bảo chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có hệ thống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong Ngân hàng và tình hình kinh tế, thị trường bên ngoài hợp lý, tin cậy, kip thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành có hiệu quả. Thứ tư: hệ thống thông tin, tin học của Ngân hàng phải được giám sát, bảo vệ một cách hợp lý, an toàn, và phải có cơ chế quản lý dự phòng độc lập nhằm xử lý kịp thời những tình huống bất ngờ như thiên tai, cháy nổ,… để đảm bảo hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục của Ngân hàng. Thứ năm: mọi cán bộ, nhân viên của Ngân hàng đều phải quán triệt được tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quá trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của bản thân họ và phải tham gia thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các quy định, quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ liên quan.
Thứ sáu: người điều hành các bộ phân, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ, mọi khiếm khuyết của hệ thống này phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp, những khiếm khuyết lớn có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải được báo cáo ngay cho Tổng Giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát. Thứ bảy: tất cả các cá nhân, các bộ phận ở mọi cấp của Ngân hàng phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ của mình trước Ngân hàng và pháp luật. Thứ tám: lãnh đạo tại các đơn vị, bộ phận của Ngân hàng phải báo cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình, đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có) gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp.