PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển và hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Một trong những kết quả đáng khích lệ là một bộ phận dân cư nghèo đã từng bước khắc phục được khó khăn, đạt được mức thu nhập đáp ứng được những nhu cầu cơ bản nhất trong cuộc sống; sinh viên, học sinh có thể tiếp tục đến trường. Để đạt kết quả này, tài chính vi mô đóng vai trò rất quan trọng.
Ra đời từ những năm của thập niên 80, sau khoảng thời gian hơn 30 năm hoạt động không ngừng, tài chính vi mô tiếp cận với khách hàng chủ yếu là người nghèo, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, nhữngđịa bàn có nền kinh tế khó khăn, chậm phát triển. Đồng Nai là một trong những địa bàn trọng điểm kinh tế của cả nước nói chung và vùng Đông Nam Bộ nói riêng. Trong những năm qua, tỉnh luôn đạt được kết quả tăng trưởng kinh tế cao và ổn định; các chỉ tiêu kinh tế - xã hội được cải thiện đáng kể, luôn vượt trên mức trung bình của cả nước. Tuy nhiên, cũng như các địa phương khác, tỉnh Đồng Nai vẫn tồn tại một số nơi mà đời sống người dân, nhất là vùng dân tộc ít người còn gặp rất nhiều khó khăn.
Chênh lệch thu nhập giữa các xã, phường, thị trấn cũng như giữa nông thôn và thành thị còn lớn. Bên cạnh đó, với tốc độ đô thị hoá nhanh đã kéo theo số người nghèo ở đô thị tăng nhanh. Đây cũng là vấn đề nan giải cần giải quyết. Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội, góp phần đưa đất nước đi lên, trong những năm qua bên cạnh phát triển những ngành mũi nhọn, tỉnh Đồng Nai còn rất chú trọng vấn đề xoá đói giảm nghèo.
Vấn đề này thật sự được các cấp các ngành địa phương quan tâm, chỉ đạo, hỗ trợ thực hiện tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của việc xoá đói giảm nghèo đạt được ở thời điểm hiện tại vẫn chưa đủ cơ sở vững chắc để đảm bảo tình trạng khó khăn, đói nghèo không tái trở lại, nhất là thực trạng chống đói nghèo trong giai đoạn tới có nhiều dấu hiệu sẽ trở nên khó khăn hơn về mặt khách quan như thiên tai hoặc chủ quan như các chính sách phát triển đô thị hoá phần nào ảnh hưởng đến các lĩnh vực sản xuất truyền thống 2 đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trên địa bàn tỉnh, 100% địa phương từ cấp phường xã đã tiếp cận được dịch vụ của Ngân hàng Chính sách Xã hội, tuy nhiên người nghèo vẫn chưa hoàn toàn dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay này. Trong quá trình phát triển và hội nhập, tỉnh Đồng Nai đã xuất hiện một số hình thức của tài chính vi mô.
Ngoài sự hiện diện mang tính ổn định của NHCSXH, NHNo&PTNT, thì các loại hình tài chính vi mô khác đơn thuần chỉ mang tính chất thử nghiệm, không có sự đầu tư lâu dài nên không mang tính kế thừa. Điều này cho thấy kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính vi mô của tỉnh Đồng Nai vẫn còn rất hạn chế. Mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng về điều kiện kinh tế, phong tục, tập quán, hoạt động sản xuất, do đó việc xây dựng, phát triển tài chính vi mô cần phải có quá trình phân tích, đánh giá, sàng lọc để có thể tìm ra được mô hình, cách thức, phương hướng hoạt động phù hợp, hiệu quả. Từ đó mới tạo được nền tảng, cơ sở để tiến tới mở rộng quy mô cũng như đa dạng hoá các dịch vụ.
Tóm lại, bên cạnh những kết quả tích cực đáng khích lệ, TCVM tại Đồng Nai vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện. Do đó tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu :“Tài chính vi mô hỗ trợ cung ứng vốn tín dụng cho người nghèo tại tỉnh Đồng Nai”. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tài chính vi mô đã được công bố trong nước lẫn quốc tế. Trên cơ sở tham chiếu một số công trình nghiên cứu này, tác giả thực hiện phần tổng quan tình hình nghiên cứu như sau: 2.1 Tình hình nghiên cứu quốc tế Jonathan Morduch, Barbara Haley trong nghiên cứu “Phân tích ảnh hưởng của Tài chính vi mô tới giảm nghèo” (Analysis of the Effects of Microfinance on Poverty Reduction) [65, tr.5] đã phân tích ảnh hưởng của TCVM tới giảm nghèo, chứng minh TCVM là một công cụ hiệu quả, mạnh mẽ nhằm giải quyết phần tín dụng cơ bản cho những đối tượng có thu nhập dưới mức trung bình.
Tuy nhiên, 3 giống như nhiều công cụ phát triển khác, nó không đủ tiềm lực thâm nhập sâu vào các tầng lớp nghèo trong xã hội. Cheryl Frankiewicz và Craig Churchill trong “Thực hiện công việc tài chính vi mô” (Making Microfinanace Work) [61, tr.4] đã nhận định TCVM không phải dành cho tất cả mọi người và không phải tất cả khách hàng tiềm năng đều bình đẳng khi tiếp cận TCVM. Đối tượng mà các tác giả hướng tới không chỉ là người nghèo “đơn thuần” mà còn là những người bị bệnh tâm thần, người tàn tật, mất sức lao động, thậm chí là người sống chung với HIV/AIDS và người nghèo nhất trong số người nghèo. Sự cô lập, dễ bị tổn thương mang tính đặc trưng của nhóm người này đã tạo nên rào cản làm cho họ khó có thể đạt được cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nghiên cứu chỉ ra yêu cầu cần đa dạng hóa cách tiếp cận TCVM hướng tới bộ phận đặc biệt này vì đây thật sự là đối tượng cần được hỗ trợ cơ bản trực tiếp. TCVM là sự giúp đỡ một cách sáng tạo, cần thiết, có tính nhân văn nhất được mang đến cho các khu vực ít nhận được sự quan tâm, cung cấp một cơ hội cho người nghèo không chỉ để nâng cao tiêu chuẩn sống, lòng tự trọng mà còn giúp họ có thể kiếm sống, làm việc theo cách của riêng của mình. TCVM đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một hệ thống tài chính ưu đãi góp phần giảm bớt gánh năng cho xã hội song hành với hiệu ứng xã hội cân bằng. Jonathan Bauchet, Cristobal Marshall, Laura Starita, Jeanette Thomas, Anna Yalouris trong nghiên cứu “Những phát hiện mới nhất từ đánh giá ngẫu nhiên của Tài chính vi mô” (Latest Findings from Randomized Evaluations of Microfinance Consultative to Assist the Poor) [30, tr6] lại đề cập đến giới của khách hàng trong hoạt động TCVM.
Một nghiên cứu thực hiện tại Kenya chỉ ra rằng việc thực hành tiết kiệm cho phép khách hàng nữ của tổ chức TCVM có thể trữ được lượng hàng tồn kho nông sản lớn hơn, do đó có thu nhập cao hơn. Khi tiếp cận đến hiệu quả mà TCVM đem đến cho doanh nghiệp, các tác giả cho rằng các doanh nghiệp vi mô thuộc sở hữu, quản lý bởi người phụ nữ thường hoạt động hiệu quả hơn so nam giới. Tuy nhiên, cơ chế trao quyền tự quyết về tín dụng cho phụ nữ 4 không phải việc đơn giản, nhất là đối với xã hội có nền văn hóa trọng nam khinh nữ. Nhận xét: Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng TCVM trở nên đặc biệt quan trọng và mang tính cấp thiết trong tình huống điều kiện kinh tế vĩ mô, viện trợ nước ngoài và đầu tư bất lợi cho phát triển của cộng đồng.
TCVM giúp giảm tổn thương bằng cách tiếp cận tăng vốn, do đó khách hàng được bảo vệ chống lại rủi ro trong tương lai bằng cách đa dạng hóa nguồn thu nhập, thay thế nguồn lực bị mất mát, hao hụt. Tổ chức TCVM bền vững giúp ngăn ngừa hiệu quả các tác động không mong muốn do tình trạng nghèo đói có chiều hướng phức tạp mà nguyên nhân sâu xa là sự sút kém của nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Thành công của TCVM có độ tương phản rất cao với chương trình của nhiều ngân hàng nhà nước, nơi cố gắng để cung cấp khoản vay cho hộ gia đình người nghèo; kết quả thường được nhắc tới sau cùng: tham nhũng, không hiệu quả, và hàng triệu đô la trợ cấp lãng phí. Bên cạnh đó, sự thành công của TCVM mang đặc trưng nổi bật - cung cấp khoản vay nhỏ không yêu cầu thế chấp cũng tương phản với các lý thuyết kinh tế truyền thống; nơi cung cấp phong phú những cảnh báo ủng hộ việc không nên cho vay đến hộ gia đình có thu nhập thấp - thiếu tài sản thế chấp.
Tuy còn khiếm khuyết, nhưng TCVM phần lớn đều cho kết quả hoạt động tốt hơn, bền vững hơn nếu so với định chế do nhà nước chi phối. Tài chính dành cho người nghèo trong tương lai là sự đan xen, kết hợp giữa nhà nước và tư nhân đi cùng luật lệ minh bạch, công bằng.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Tác giả Đào Tấn Nguyễn (2004) đã phân tích về hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam, đồng thời khái quát hoạt động của Quỹ Tình thương thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ với vốn cho vay (không thế chấp) được lặp lại nhiều vòng, mức vay tăng dần từ nhỏ đến lớn, lãi suất cho vay ngang bằng lãi suất thị trường. Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm về tín dụng cho người nghèo, ý thức tiết kiệm và hỗ trợ lẫn nhau giữa phụ nữ nghèo; về tính chất xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo thông qua Hội liên hiệp Phụ nữ cùng với cải tiến dịch vụ tín dụng. 5 Trong “Những phát hiện mới về tình hình Tài chính vi mô ở Việt Nam” James Seward, Ngân hàng thế giới đã đánh giá cao hiệu quả hoạt động của TCVM tại Việt Nam.
Các nhà cung cấp ở Việt Nam đã hoạt động tốt hơn, với khoảng 70 - 80% người nghèo bước đầu tiếp cận dịch vụ TCVM, ít nhất là tín dụng từ tổ chức tài chính chính thức hoặc chương trình do Chính phủ chỉ định. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến hiệu quả của dịch vụ tài chính dành cho người nghèo tại Việt Nam, chưa kể nhu cầu về những khoản vay phù hợp, linh hoạt hơn; có cấu trúc khác nhau - dịch vụ tài chính ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp.